Monday, September 23, 2019

MỘT CÂU NÓI NGU ĐẲNG CẤP KHÁC CỦA BA QUE



Một trong những cái buồn cười nhất ở đời đó là có những thằng ngu nhưng cứ nghĩ mình là khôn nhất thiên hạ.  Tộc ba que xỏ lá là một tập thể tập trung những con vật như thế! Và đó cũng chính là lý do làm chúng có kết cục như ngày hôm nay.

Ba que thường phán những câu mà chúng đinh ninh là rất hay, cao siêu, bắt bí được người khác nên thường đem ra nói để tự sướng với nhau hoặc đem đi còm dạo, bình thiên hạ trên thế giới ảo!

Nhưng đối với những ai biết suy nghĩ thì thường những câu nói này chỉ toàn là chửi cha cái thằng phát ngôn ra chúng thôi! Ba que toàn mồm nhanh hơn não, hay não cũng chả có nên mê chửi quá thành ra cuối cùng toàn chửi mình mà cứ vô tư không biết!

Ví dụ như một câu nói rất phổ biến về người vượt biên mà tôi đã có dịp phân tích trong bài này.

Hay một câu khác mà hôm nay tôi sẽ nói đến là, 'Đất nước dân tộc là trường tồn, chế độ hay đảng phái là tạm thời.' Thực sự tôi không hiểu là mục đích của ba que muốn gì khi phán ra một câu nói vô thưởng vô phạt như thế! Hình như ba que muốn nói gì đó về Đảng CS? Nhưng tại sao tôi lại thấy buồn cười cho ba que vậy chứ?!

Một là câu nói này biểu lộ một sự bất lực toàn tập đến tội nghiệp, sâu trong tâm khảm của ba que.  Lực bất tòng tâm.  Tâm thì muốn cộng sản sụp từ ngày hôm qua rồi nhưng lực thì không có nên đành ngồi đó trù ẻo bằng mồm cho đến khi cộng sản tự chết hay là mình sẽ...hộc máu chết trước!

Hai là câu nói trên hình như muốn bảo người dân Việt Nam trong và ngoài Đảng rằng không nên luyến tiếc mà hãy mạnh dạn đứng lên giật sập chế độ cho ba que về ăn hưởng như xưa! Hãy tập dùng óc nhé ba que? Ngày xưa đất nước bị chia cắt, chiến tranh, nhân dân lầm than đói khổ, không biết ăn 'dân chủ' của Mỹ từ trên trời rơi xuống chết bất đắc kỳ tử lúc nào mà ba que còn không chịu giật sập cái chế độ ngụy nô rước giặc vào nhà đó để cứu dân thì với hoàn cảnh sung sướng còn hơn ba que bên 'thiên đường' bây giờ, tại sao dân lại phải làm cái chuyện ruồi bu ngu xuẩn đó cho ba que?!

Ba là, nếu thật sự đảng phái, chế độ chỉ là nhất thời thì tại sao ba que không làm như lời mình dạy, sao không quên mẹ cái chế độ ngụy nô nhục nhã, phản phúc, khốn nạn mà chính cái thằng bố đẻ của nó đã vứt vào sọt rác ròi đi?! Tại sao vẫn còn ngoan cố gần nửa thế kỷ nay móc nó ra từ cái sọt rác nhơ nhớp đó để ngửi rồi tung hô?! Có phải là lại chửi cha cái câu 'đừng nghe...' gì đó của tỏng Thẹo chưa?!

Cái chế độ ngụy nô bán nước hại dân đã bị nhân dân vùng lên xóa sổ, bố ghẻ của nó vứt vào sọt rác lịch sử gần 45 năm, hơn gấp đôi thời gian nó sống kiếp ký sinh trùng chứ có ít gì? Từ khi sống đến lúc chết, nó không nhục nhã thì khốn nạn mà các con lợn còn không chịu bỏ thì với lịch sử, quá khứ hiện tại vinh quang hào hùng của cái chế độ này, chả có lý do gì mà người ta phải đứng lên giật sập nó cả! Những giai đoạn khó khăn nhất mà cộng sản cũng không chịu đu càng bỏ chạy thì bây giờ cái chế độ này nó chỉ có sống dai sống khỏe thôi nhé các lợn.  Không ai đánh thuế giấc mơ nhưng tôi chắc chắn luôn là các lợn sẽ tức chảy máu mắt về chầu tổ tiên tây lông hết trước khi cái chế độ này nó chịu sập nhé.  Thế cho nó tròn!

Các con lợn khi phán câu này thì mặt mày thường vênh váo, dương dương tự đắc! Hình như nó đinh ninh rằng, nó vừa phán ra một cái gì đó rất cao siêu, thông thái nhưng sự thật lại là một câu nói ngu cực kỳ đẳng cấp! Vì nó có thể tổng hợp rất nhiều cái ngu chỉ trong một vài chữ! Chửi cha luôn cái thằng phát biểu! Hai mùa kháng chiến sở dĩ thành công đúng ra phải kể đến cái công ngu thượng thừa vô địch của ba que!

Friday, September 20, 2019

'DÂN CHỦ PHÁP TRỊ' KIỂU THÚ RỪNG



Ảnh: Công dân Mỹ biểu tình chống cảnh sát Mỹ lạm sát người dân ở Ferguson, Missouri, với khẩu hiệu 'Đừng giết chúng tôi nữa'.

Cộng đồng con rơi (da vàng) của tây lông trong và ngoài nước mấy ngày qua đang say sưa ca ngợi tung hô một đứa con rơi (da vàng) của tây lông khác từ Hồng Kông (HK) sang Mỹ 'điều trần' trước quốc hội...Mỹ!

Theo lý thuyết về dân chủ do chính các con lợn rừng này rao giảng thì dân chủ có nghĩa là dân trong một nước, vùng lãnh thổ sẽ bầu ra đại diện của họ ở cấp địa phương và trung ương để lo cho các vấn đề của họ.

Thằng Wong và dân HK đã bầu ra cái quốc hội...Mỹ khi nào?! Họ cũng không phải là công dân Mỹ.  Đất HK cũng không phải là thuộc địa hay tiểu bang Mỹ.  Vậy cái QH Mỹ nó lại có cái quyền hạn gì mà lo chuyện dân, đất HK, nghe thằng Wong 'điều trần' y như thật về những chuyện đó?!
Các con lợn rừng hay đặt câu hỏi về sự lãnh đạo của ĐCSVN trong khi lại mặc nhiên xem QH Mỹ đang có cái quyền gì đó trên công việc nội bộ của một quốc gia độc lập có chủ quyền bên ngoài nước Mỹ, cách xa cả nửa vòng trái đất là sao?!

Hành động tung hô thằng Wong của đám lợn rừng đã chửi cha chính cái lý thuyêt 'dân chủ' mà chúng luôn rao giảng!

Cũng trong những ngày gần đây, HĐ Nhân quyền của LHQ đã nghe điều trần về tình hình nhân quyền ở Ả rập Saudi.  Ở đó cũng có những câu chuyện về thanh thiếu niên tham gia biểu tình chống chính quyền nhưng khác là đã có 6 thiếu niên (dưới 18 tuổi) bị tử hình bằng hình thức đóng đinh lên giá gỗ hay chặt đầu trong năm nay vì tham gia biểu tình chống chính quyền.  Câu chuyện điển hình là một thiếu niên 17 tuổi đang ra sân bay để bay sang Mỹ du học thì bị bắt lại đem về tra tấn rổi chặt đầu bằng kiếm!

Quốc hội Mỹ chả 'quan ngại' hay lăn tăn gì về nước này vì nó là một đồng minh thân cận của đế quốc Mỹ ở Trung Đông.

Những chuyện này không có gì mới.  Từ sau thế chiến II đến nay, Mỹ không những phớt lờ tội ác của các chế độ độc tài thân mình trên khắp thế giới mà còn tạo ra chúng, chỉ đạo, hay trực tiếp tham gia những hoạt động đàn áp đối lập trong các nước đó.  Điển hình là các vụ như ở Gwangju, Hàn Quốc.  Nó cũng bắt đầu từ các cuộc biểu tình của sinh viên một trường đại học.  Không những cảnh sát mà cả các lực lượng quân đội cũng được phái đến.  Không những bị đánh đập mà sinh viên còn bị hãm hiếp, bắn chết tại chỗ.  Ước tính có hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị thương.

Ở Indonesia, Mỹ đã giúp tên độc tài khét tiếng Suharto lật đổ tổng thống chống thực dân Sukarno lên nắm quyền và tiến hành cuộc tàn sát khủng khiếp với ước tính nhân mạng từ 300 ngàn đến 3 triệu.  CIA đã cung cấp ít nhất 5000 cái tên cho Suharto giết!

Ở Việt Nam,  Mỹ đưa một tên độc tài khét lẹt khác là Ngô Đình Diệm lên ở miền Nam, ủng hộ Diệm tiến hành chiến dịch 'tố cộng, diệt cộng', giết và bỏ tù hàng chục ngàn người cộng sản và tình nghi.  Nhiều phật tử, sinh viên đã bị cảnh sát, quân đội bắn chết trong các cuộc biểu tình.

Ở Chile, Nam Mỹ, tên độc tài khét cháy Augusto Pinochet dưới sự hậu thuẫn và sắp đặt của Mỹ đã tiến hành lật đổ tổng thống dân cử Salvador Allende và tiến hành tàn sát hàng ngàn đối lập sau đó.

Hay ngay ở Mỹ, dân Mỹ biểu tình không những bị bắn bỏ mà còn ăn bom của chính quyền.  Hai vụ điển hình:

https://www.history.com/topics/vietnam-war/kent-state-shooting
https://mashable.com/2016/01/10/1985-move-bombing/

Trên đây chỉ là vài vụ điển hình.  Nếu liệt kê đầy đủ thì đọc đến mai cũng không hết!

Một con người sẽ nhận ra ngay dân chủ tự do hay nhân quyền chỉ là một chiêu bài rẻ tiền, trò mèo của Mỹ vẫn dùng để bôi nhọ, phá hoại các quốc gia còn chưa chịu nằm ngửa ra cho Mỹ xoạc, chứ đối với Mỹ và đám chư hầu khắp thế giới, những thứ đó vẫn luôn được dùng làm thảm lót chân để đi mỗi ngày, hàng mấy thập kỷ nay rồi.

Đám lợn con rơi da vàng thì lại tin lời thằng bố khác giống của nó như tin lời thượng đế vậy! Cho nên các cháu đừng có mơ tự do dân chủ với NHÂN quyền cho các cháu nha! Những thứ đó là quyền dành cho con người chứ không phải cho lợn rừng!


Friday, May 17, 2019

BÁN DÂM XUYÊN QUỐC GIA: LẠI TẠI CỘNG SẢN?

Ảnh: Nhóm nhạc K-pop Oh My Girl, bay sang Mỹ chụp ảnh cho album nhạc bị giữ lại ở sân bay 15 giờ để khám xét hành lý và trục xuất về HQ sau đó vì bị nghi ngờ sang Mỹ bán dâm.

3 que me tây và báo đài chó lợn hay moi móc chuyện gái Việt bị cấm nhập cảnh ở sân bay nước ngoài hoặc đĩ điếm người Việt ở các khu ăn chơi Sing, Đài để lên án 'chế độ cộng sản' ở Việt Nam.

Gần đây đài VOA lại đăng một bài định hướng như thế.  Nội dung bài cho biết Đài Loan bắt 26 nữ du khách đa quốc gia, trong đó có 5 phụ nữ Việt, sang Đài bán dâm, nhưng tựa đề của nó lại là 'Đài Loan bắt nhóm người Việt đi du lịch để hành nghề mại dâm' làm như chỉ có gái Việt mới ra nước ngoài bán dâm vậy!

Thứ nhất, ở Việt Nam hiện nay không tồn tại một 'chế độ cộng sản' mà chỉ được lãnh đạo bởi Đảng cộng sản với hình thái kinh tế, xã hội chẳng khác gì các nước được coi là tư bản như...Mỹ! Vì Việt Nam có một nền kinh tế đa thành phần, cho nên đổ thừa đĩ điếm xuyên quốc gia lên 'chế độ cộng sản' là hết sức ngu xuẩn.

Thứ hai, Việt Nam hội nhập với hệ thống kinh tế tư bản của thế giới đồng nghĩa với việc hấp thu những giá trị của chủ nghĩa tư bản như vật chất, đồng tiền là trên hết, phẩm giá con người được đo bằng túi tiền chứ không phải đạo đức nhân cách, cho nên người ta dễ dàng bán thân hơn mà không thấy áy náy.  Những trung tâm ăn chơi trác táng được dựng lên như ở Sing, Đài để...kiếm tiền làm giàu.  Họ chiêu dụ gái từ khắp các nước đến để làm đa dạng mặt hàng, hấp dẫn khách, cho nên gái ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực mới kéo về.  Bán dâm xuyên quốc gia là sản phẩm trực tiếp của chủ nghĩa tư bản, như tình trạng gái Hàn bay sang Mỹ bán dâm đã vượt ngoài vòng kiểm soát từ ngày có chế độ miễn visa, đến nỗi một nhóm nhạc K-pop đã bị giam giữ ở sân bay Los Angeles, Cali, 15 giờ, hành lý bị lục soát và bị trục xuất về HQ ngay sau đó vì nghi ngờ sang Mỹ bán dâm.

Gái Hàn cũng đổ bộ sang New Zealand bán dâm sau khi bị Úc kiểm soát quá gắt gao.

Vậy vấn đề ở đây là các nước tư bản tạo ra những trung tâm ăn chơi trác táng và chủ nghĩa tư bản làm con người mê tiền bạc vật chất sẵn sàng bán thân một cách dễ dàng để miễn sao kiếm được tiền thôi chứ mắc mớ gì đến chế độ cộng sản?!

Thứ ba, Đảng cộng sản Việt Nam bị tư bản bên ngoài và dân bên trong nước ÉP đi theo kinh tế tư bản chứ không phải Đảng muốn thế.  Tư bản quốc tế bắt Việt Nam phải chuyển đổi sang kinh tế tư bản thì mới cho buôn bán làm ăn với họ.  Dân trong nước thì không chịu làm ăn chung theo mô hình xã nghĩa mà thích làm ăn riêng để làm giàu cho riêng mình.  Cho nên Đảng cộng sản mới chuyển đổi, 'hội nhập' với hệ thống kinh tế tư bản thế giới từ cuối thập niên 80.  3 que me tây thì càng thích theo tư bản hơn nữa! Vậy gái Việt Nam cũng 'hội nhập sâu rộng' với thế giới tư bản bán dâm là đúng bài tư bản rồi sao lại sủa cộng sản?!

Thứ tư, bán dâm ở Việt Nam thời bây giờ chỉ ở mức độ bình thường như bao nhiêu quốc gia khác, các ngành chủ đạo của nền kinh tế hiện nay là công, nông, ngư nghiệp, trong khi thời ngụy thì bán trôn là một ngành kinh tế chủ đạo, thủ đô nước ngụy nó là một cái động đĩ khổng lồ (ông cố nội Mỹ của 3 que đánh giá).  Lính Mỹ, là khách hàng chính rút hết thì kinh tế ngụy sụp đổ luôn! Nhưng 3 que me tây lại tung hô cái nước ngụy, dè bỉu Việt Nam bây giờ là sao?!

Bởi vậy, óc chó là có thật!

Wednesday, May 15, 2019

NGỤY BIỆN BOM NGUYÊN TỬ

Ảnh trên: Lính Mỹ trên TSB Bon Homme Richard (CV-31) đang gắn một quả dân chủ lên máy bay quăng dân chủ xuống Việt Nam năm 1965.
Ảnh dưới: Bên trong một quả dân chủ chùm.

Các con 3 que me tây hay cho rằng Mỹ mà dùng bom nguyên tử trong chiến tranh xâm lược Việt Nam thì đã thắng.  Làm như Mỹ còn nhân đạo hay rảnh quá gây chiến tranh mà lại không muốn thắng vậy!

1.  Mỹ đã thả một lượng bom có sức công phá tổng cộng tương đương với 640 quả bom nguyên tử dùng ở Hiroshima xuống Việt Nam.  Trong đó có nhiều loại bom ngoài giá trị sát thương còn mang tính chất khủng bố tinh thần đối phương như các loại bom hóa chất gây cháy, napalm, white phosphorus, bom chùm,...

Chúng đã rải gần 46 triệu lít chất độc da cam xuống 10% diện tích miền Nam.  34% diện tích đó đã bị rải đi rải lại nhiều lần.  Sự nguy hại của chất độc hóa học này trên đất đai và con người chẳng kém gì bị nhiễm phóng xạ.  Do đó trên thực tế, Việt Nam đã nhận lãnh hàng trăm quả bom nguyên tử mà Mỹ lại không bị thế giới lên án là dùng bom nguyên tử! Đó mới là khôn nha các con 3 que me tây!

2.  Bỏ bom nguyên tử vào lúc nào? Khi Mỹ đổ quân vào năm 1965, với lực lượng quân Mỹ, ngụy, và chư hầu khoảng 1,5 triệu, cùng vũ khí, hỏa lực trên không, trên cạn, dưới nước hoàn toàn áp đảo, đem đánh khoảng mấy chục ngàn quân GPMN thì họ đinh ninh sẽ giết hết cộng sản miền Nam trong vòng hai năm.  Đến cuối năm 1967, tướng tổng chỉ huy quân Mỹ-ngụy, Westmoreland, vẫn tin tưởng như thế, nên tuyên bố kế hoạch bình định miền Nam đã thấy được 'ánh sáng cuối đường hầm'.  Vậy thì dùng bom nguyên tử làm gì trong thời gian này?!

Ai ngờ đùng một cái, cộng sản tiến hành cuộc tổng tấn công Tết 1968 trên toàn bộ các tỉnh thành miền Nam! Westmoreland bị ăn chửi là nói láo, Johnson nghe lời Westmoreland lỡ chém gió này nọ, cũng bị hố, nên bỏ luôn tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.  Dân Mỹ thì đòi chấm dứt cuộc phiêu lưu quân sự vì quá tốn kém mà chẳng được gì, do đó Johnson đã đơn phương ngưng ném bom miền Bắc để xin đàm phán với VNDCCH và MTDTGPMN.  Bom thông thường mà Mỹ còn phải ngưng ném để tỏ thành ý muốn nói chuyện thì sao họ lại dám ném bom nguyên tử lúc này?!

Đến thời Nixon cũng vậy.  Ông này đắc cử vì hô khẩu hiệu 'Hòa bình trong danh dự' thì không lẽ lại dùng bom nguyên tử để đàm phán hòa bình?! Cho nên chính phủ Mỹ thời này cũng chỉ cố gắng hết sức vớt vát chút nào hay chút đó rồi ký Hiệp định Paris cho xong, rút lui trong danh dự thôi.

3.  Bỏ bom nguyên tử ở đâu?! Ném ở chiến trường miền Nam được không? Mỹ vào miền Nam với danh nghĩa 'bảo vệ miền Nam trước sự xâm lăng của cộng sản' nhưng đã càn quét, tàn sát dân miền Nam như những kẻ xâm lược tàn bạo nhất, làm cả thế giới phẫn nộ, dân chúng Mỹ biểu tình làm loạn, bạn bè đồng minh truyền thống ở Tây Âu xa lánh.  Vậy nếu ném bom nguyên tử xuống miền Nam thì Mỹ sẽ phải cuốn gói mau hơn nữa vì áp lực chính trị càng lớn hơn nhiều! Sau này chẳng ai dám nhờ Mỹ 'giúp' để đất nước họ bị biến thành bình địa, dân ăn phóng xạ hàng ngàn năm, làm sao Mỹ có thể dùng lại chiêu bài người tốt chống kẻ xấu để đem quân đi khắp nơi chiếm đóng lập tiền đồn đế quốc nữa?!

Ném ở miền Bắc được không? Hầu hết các cơ sở quân sự, công nghiệp hay ngay cả dân sự ở miền Bắc đã bị ném bom tan nát thì ném bom nguyên tử chỉ hoàn toàn mang tính chất khủng bố nên cũng sẽ không có lợi gì cho hình ảnh của Mỹ, trong cũng như ngoài nước.  Bom nguyên tử sẽ hủy diệt cả thành phố, thì chắc chắn có cả nhân viên ngoại giao, chuyên viên quân sự của Liên-xô, TQ và Đông Âu hay ngay cả các nhà báo phương tây trong đó.  Bom nguyên tử là vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD).  Khi Mỹ dùng nó như một vũ khí thông thường TRƯỚC thì đối phương chắc chắn cũng sẽ có quyền làm như thế! LX hay TQ sẽ cho miền Bắc một vài quả xách tay đem vào SG làm y như thế thì ngụy quyền sẽ sụp đổ ngay và luôn mà không cần tốn nhiều sức!

Bên cạnh vũ khí nguyên tử,  miền Bắc cũng có thể dùng các loại vũ khí WMD khác như hóa học hay vi trùng.  Lúc đó quân Mỹ sẽ tự làm mất đi ưu thế tuyệt đối về hỏa lực thông thường của mình.  Năng lực tiêu diệt quân đối phương của cả hai bên sẽ cân bằng, việc giết Mỹ của quân giải phóng sẽ trở nên hết sức dễ dàng.  Mỹ sẽ mất hết toàn bộ quân ở miền Nam, ngay cả đám chỉ huy cao cấp, trong vòng vài nốt nhạc! Bị chết mấy chục ngàn bởi vũ khí thông thường mà dân Mỹ đã đốt thẻ quân dịch, làm loạn không chịu đi lính sang Việt Nam, thì nếu ăn WMD chết hàng trăm ngàn, họ sẽ đốt luôn cái nhà Trắng giùm Việt Nam nhé!

Mỹ dám dùng bom nguyên tử ở Nhật vì lúc đó họ độc quyền loại vũ khí này.  Nhật ở trong hoàn cảnh thân cô thế cô không đồng minh và không có khả năng đáp trả.  Quân Mỹ đánh từ xa, bên ngoài vào.  Mỹ không có lợi thế đó ở Việt Nam.

Các con me tây, 3 que xỏ lá là trứng mà cứ đòi khôn hơn rận chứ?!

Trong tất cả các bên, 3 que me tây là cái đám ngu nhất nhưng luôn nghĩ mình khôn nhất, khôn hơn cả bố ghẻ tây lông của chúng!


Monday, May 13, 2019

NẾU MỸ TẬP TRUNG LO CHUYỆN NHÀ...


Theo một nghiên cứu mới nhất, các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ áp đặt lên Venezuela đã làm 40 ngàn người chết từ năm 2017.

Trừng phạt kinh tế, cấm vận là những hình thức chiến tranh kinh tế, ngăn chặn không cho nước bị cấm vận làm ăn buôn bán để gây thiệt hại kinh tế.  Giống như người xưa vây hãm thành trì.  Mỹ cấm vận kinh tế làm dân Venezuela khốn đốn, rồi ép họ lật đổ chính quyền cho mình thì cũng giống y như ngày xưa bên vây hãm thành ra điều kiện cho dân trong thành nộp đầu chủ tướng để được tha vậy.

Cấm vận sẽ làm cho kinh tế một nước, theo bất kỳ chế độ nào, khốn đốn, nhưng Mỹ lại chơi cái trò mèo cấm vận cho dân nước người ta chết đã rồi lại đổ thừa họ chết là do chế độ xã nghĩa! Ở khu vực Trung, Nam Mỹ, chỉ có hai nước xã nghĩa là Cuba và Venezuela (mới chuyển đổi), vậy mà xưa nay, dân các nước còn lại trong khu vực đó, theo tư bản, không bị Mỹ cấm vận, nhưng họ vẫn đói kém, không việc làm, cứ lũ lượt kéo nhau vượt biên sang Mỹ là sao? Sao Mỹ không lên án chủ nghĩa tư bản, đòi thay đổi?! :v

Trò mèo hèn hạ rẻ tiền này lại dắt mũi được khối người ngu! Mỗi lần mấy cái loa rè chống cộng như VOA hay BBC đăng những bài tuyên truyền rẻ tiền dắt mũi đó, lại có một đám lợn vào dè bỉu xã nghĩa, nghĩ rằng mình khôn! :v

Thực ra cái chế độ có vấn đề là chế độ tư bản như Mỹ! Một đất nước mang tiếng giàu nhất thế giới, lại dùng sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự chèn ép các nước khác, kể cả 'đồng minh', để không bao giờ có ai ngoi lên bằng mình được, không bị thế giới cấm vận, mà dân chỉ cần bị thất nghiệp thôi, là có thể ra đường ngủ trong một nốt nhạc như dân Venezuela bị cấm vận vậy! Mấy chục triệu người không có tiền mua bảo hiểm y tế nên có bệnh mà không dám đi khám, chữa bệnh!

Có hơn nửa triệu dân vô gia cư trên đất Mỹ

Một vài 'thành phố lều' của dân không có tiền thuê nhà trên nước Mỹ:

https://www.postandcourier.com/archives/tent-city-fire-burns-clothing-trash-and-a-few-tents/article_228acce0-dd9c-593c-87bb-796d561b35cf.html

https://wjla.com/news/local/virginia-beach-considers-tent-city-for-homeless-64729

https://www.americamagazine.org/politics-society/2017/09/18/tent-city-usa-southern-californias-homelessness-crisis

Danh sách các thành phố lều trên nước Mỹ:

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_tent_cities_in_the_United_States

1 trên 4 người Mỹ từ chối điều trị y khoa vì không có khả năng chi trả:

https://www.marketwatch.com/story/1-in-4-americans-have-to-refuse-medical-care-because-they-cant-afford-it-2017-06-06

27 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế:

https://www.kff.org/uninsured/fact-sheet/key-facts-about-the-uninsured-population/

Chính quyền Mỹ không lo cho dân Mỹ mà lại mở mấy cái đài giẻ rách như VOA lo chuyện nước khác! Mồm Mỹ thì ra rả lo lắng cho dân Venezuela khổ mà tay thì lại bóp cổ họ cho chết! Không lo được cho dân mình thì thôi.  Nước khác muốn xây dựng một chế độ xã nghĩa để lo cho dân họ tốt hơn thì kệ người ta, cứ kiếm chuyện phá!

Các con ba que me tây cứ tung hô Mỹ can thiệp để cứu nhân độ thế chứ thực ra thì nếu Mỹ dùng thời gian tập trung lo chuyện nhà, ngưng lo chuyện nước khác bằng cách...cấm vận, quăng bom khủng bố thì chắc chắn cả dân Mỹ và dân các nước khác đã không phải khổ như thế rồi!

Monday, May 6, 2019

U.S. Spent $141‐Billion In Vietnam in 14 Years

WASHINGTON, April 30 (AP) —From 1961 until the surrender of the Saigon Government, the United States spent more than $141‐billion in South Vietnam, or more than $7,000 for each of South Vietnam's 20 million people.
By the time the Paris peace accords were signed in January, 1973, more than 56,000 American servicemen had died in Vietnam, 46,000 of them in combat.
Measuring the full cost of Vietnam fighting to the United States inevitably goes far beyond the statistics. For example many economists link the rapid inflationary spiral of the late nineteen‐sixties directly to large Federal deficits that resulted from United States spending in Vietnam.

Critics of the late President Lyndon B. Johnson maintain that he tried to finance his Great Society domestic programs and an expensive war simultaneously without a corresponding increase in Federal taxes. When huge Federal deficits appeared, the purchasing power of the dollar fell, a decline that continues eating into the pocketbooks of American consumers today.
Million Battle Deaths
Although America's involvement in the war was costly in both casualties and dollars spent, it set no U.S. record for either category. In the Civil War 498,332 Americans died, and combat deaths were higher in both World Wars 1 and II than they were in Vietnam.
Casualties and combat deaths among the South Vietnamese and Communist forces went far beyond American losses.
The Pentagon estimates that there were over 241,000 South Vietnamese combat deaths and more than one million combined Vietcong and North Vietnamese combat deaths.
The dollar cost of the United States involvement in the war is more difficult to compare. Everything from rifles to uniforms to ships to fighter planes cost less in previous conflicts;
Salaries of the 2.6 million servicemen who served in Vietnam over 11‐ years accounted for much of the cost of the Vietnam war, as did the 4,900 helicopters and more than 3,700 jets and other American‐made planes lost in the fighting.

American ‐ made military weaponry and equipment valued at more than $2‐billion were in the hands of the South Vietnamese Army before it stopped fighting.
Record tonnages of ammunition, including artillery and B‐52 bombs, expended by the United States in Vietnam also added to the cost of the war.
The Soviet Union and China have also poured staggering amounts or military and economic aid into North Vietnam,

Hanoi Received $7‐Billion
As of January, 1975, it wan estimated that the Soviet Union and China had provided more than $7.5‐billion in aid to the North Vietnamese, with about 40 per cent being military. But Pentagon officials cautioned that all such estimates are at best rough guesses.
Nonetheless, the March 1975 intelligence estimate said: “Total Communist military and economic aid to North Vietnam in 1974 was higher than in any previous year.”
When the role of American fighting men in Vietnam ended on Jan. 27, 1973, the conflict was the longest in American history. It took eight years for the Revolutionary War to end; the Spanish‐American War of 1898 ran only four months.

In the period 1967 to 1970, the United States spent successively $22.2‐billion, $26.3‐bil lion, $26.5‐billion and $18.5‐billion.
In the current fiscal year, after sending almost $700‐million in aid to South Vietnam, President Ford was still pressing for additional millions when the end came.

https://www.nytimes.com/1975/05/01/archives/us-spent-141billion-in-vietnam-in-14-years.html



REMEMBER THAT TIME WE FORGOT A NAVY AND HAD TO GO BACK AND GET IT?


Painting, mixed media on board, by James Scott. With the fall of Saigon to Communist forces in April 1975, United States involvement in Vietnam came to an end. Adm. James L. Holloway III assumed the responsibility for naval operations during the evacuation of United States nationals and more than 100,000 South Vietnamese refugees, through Operation Frequent Wind. (U.S. Naval History and Heritage Command)

December 29, 2018

Saigon was falling.
Since the collapse of Ban Me Thuot in the Central Highlands on March 10, 1975, the South’s Army of the Republic of Vietnam (ARVN) had been in disorderly retreat, hoping to redeploy its forces and hold an enclave south of the 13th parallel.
The rapid pace of defeat came as a surprise to American and South Vietnamese generals, as well as to the North Vietnamese who, supported by artillery and armor, drove relentlessly toward Saigon after capturing Hue and Da Nang.
By the end of March, hopes of halting the advance on the capital were abandoned by Central Intelligence Agency officers who believed nothing short of B-52 strikes on Hanoi could reverse the offensive.
By April 20, the North’s People’s Army of Vietnam (PAVN) forces had overrun Xuan Loc, the last line of defense before Saigon.
With that, President Nguyen Van Thieu resigned and denounced the United States for not coming to the aid of South Vietnam.
By April 27, Saigon was encircled by more than 100,000 PAVN troops.
It was widely feared that a bloodbath of reprisals against Vietnamese who had worked with Americans would accompany a Communist victory.

In Washington, the Ford Administration had begun planning a complete evacuation of Americans.

President Gerald Ford smokes his pipe at the National Security Council meeting on April 28, 1975, where it was decided to evacuate Saigon. (Ford Library)

The Pentagon wanted to get them out as fast as possible to avoid casualties, but U.S. Ambassador Graham Martin tried to keep the evacuation as quiet and orderly as possible, to avoid total chaos and the possibility of South Vietnamese turning against fleeing Americans.
President Gerald Ford still hoped to gain additional military aid for South Vietnam and pushed Congress to approve $722 million to rebuild South Vietnamese forces destroyed in the past month’s rout. Secretary of State Henry Kissinger was opposed to a full-scale evacuation as long as the aid option remained on the table.
As hundreds of helicopters carrying refugees desperately fled Saigon on April 30, 1975, Cmdr. Paul Jacobs, the skipper of the warship Kirk — a Knox-class destroyer escort commissioned in 1972 and reclassified as a frigate three years later — decided to signal to some to land on his deck.
While Americans were assured evacuation, South Vietnamese, desperate to leave Saigon, had to resort to under-the-table payments to secure passports and visas. The price of seagoing vessels tripled, and evacuees moved in droves to anything that would float or fly and headed for the South China Sea, where the U.S. Navy’s Seventh Fleet task force stood by to support the evacuation.
Among the dozens of ships that would be fated to play a large role in the rescue of tens of thousands of refugees was the Kirk. With a crew of 250 sailors, it had already participated in the evacuation of Phnom Penh, Cambodia, weeks earlier.
As a submarine hunter, its crew was trained for warfare, but the ship never saw combat during the Vietnam War.
Little did Kirk’s skipper Paul Jacobs and crew imagine that, in the closing days of the conflict, they would become key players in a secret mission of historic proportions — of which their role would not be officially recognized for more than three decades.

Six days earlier

As the embassy began to allow a trickle of its own Vietnamese employees to leave, Assistant Defense Secretary Erich von Marbod and his aide, Richard Armitage, sent by Secretary of Defense James Schlesinger, arrived on April 24 to prevent additional U.S. military equipment from falling into Communist hands and to pressure Ambassador Martin to evacuate gold bullion from Saigon’s treasury.
Von Marbod had already arranged with the Thais to let him use several bases in Thailand to park planes and equipment he hoped Martin would allow him to spirit out.
Armitage was to work with the Vietnamese navy to devise a rescue plan for ships, crews and families.
When Martin learned what they were up to, however, he was furious. The withdrawal of any military equipment from Saigon, he protested, would sabotage Vietnamese morale and destroy whatever chance existed for an orderly change in government.
There would be a cease-fire in three days, Martin said. He believed there would be 30 days to form a coalition government and undertake the demilitarization of South Vietnam.
Ambassador Martin assured von Marbod that he would then have “all the time in the world to salvage American materiel.”
The State Department had ordered a military flight to ferry $220 million in gold bullion from the Saigon treasury to the Federal Reserve Bank in New York. Martin, however, ordered the gold held in place to lend an aura of stability and add to the collateral it might bring in negotiations with the Communists.
Hoping to at least salvage planes and equipment outside of Saigon, von Marbod sent Armitage to Bien Hoa Air Force Base on April 28 to get out as much materiel as he could.
Von Marbod also met with senior Vietnamese generals to suggest the air force prepare to fly its aircraft from Tan Son Nhut to Can Tho or Phu Quoc Island. He also asked them to schedule airstrikes against Bien Hoa airfield later in the day to destroy whatever materiel Armitage could not haul out.
Within hours, however, reliable reports of a North Vietnamese advance to surround Bien Hoa were coming in and von Marbod had to reluctantly order Armitage to leave Bien Hoa.
Too late to save much of Vietnam’s air force, von Marbod and Armitage had one more ploy in mind — to save the Republic of Vietnam Navy (VNN) by moving the ships down the Saigon River to the open sea.

The last “Herk” out of Vietnam before the fall of Saigon in 1975, sits on display in front of the main gate at Little Rock Air Force Base, Arkansas. It served with several Air Force units until it was given to the South Vietnamese Air Force Nov. 2, 1972, under the Military Assistance Program. On April 29, 1975, one day before the fall of Saigon, Maj. Phuong, a South Vietnamese instructor pilot, flew an overloaded aircraft with 452 people on board, from Tan Son Nhut Air Base, Vietnam, to the Utapao Royal Thai Air Force Base in Thailand. (Air Force)
Saving Saigon’s navy
At one time the VNN was one of the top 10 in the world, with 42,000 officers and men and 1,500 ships.
If anyone could save what was left of the VNN, it was Armitage. An Annapolis graduate and fluent in Vietnamese, Armitage had spent six years with the U.S. Navy in the Vietnam Riverine advisory force, rising to the rank of lieutenant commander.
When the Nixon Administration signed the Paris Peace Accords in 1973, he considered it a sell out of the Vietnamese and in protest resigned his commission and left the Navy. Shortly after that, he then joined von Marbod at the State Department.
Von Marbod and Armitage arranged to meet with Capt. Kiem Do, the VNN’s deputy chief of naval operations and an old friend of Armitage. Capt. Do had day-to-day responsibility for deploying the navy’s ships. Von Marbod explained to him that Saigon had little time left.
“Your navy should be ready to set sail with everything that will float and rendezvous at Con Son Island. After that a U.S. Naval task force will guide you to safety.”
Plotting for a branch of the military to leave the country at that time was an act of treason, so Do kept the plan a secret until the last possible minute. Pulling the sea force into the Saigon River too soon could set off a mass panic, and mutiny would be a distinct possibility.
It was decided to begin moving ships down the Saigon River at 1800 hours on April 29.
Early that morning, Do briefed his ship captains.
Frequent Wind
Many in the American mission, particularly Ambassador Martin, believed that negotiations with the Communists were still possible if Saigon could stabilize the military situation. Martin hoped North Vietnam’s leaders would allow a “phased withdrawal” whereby a gradual departure might be possible in order to allow Americans and their Vietnamese supporters to leave over a period of months.
The ambassador intended to evacuate Saigon when necessary by use of fixed-wing aircraft from Tan Son Nhut airbase.
Before daybreak on April 29, however, rockets and heavy artillery had pounded the base, and captured South Vietnamese air force A-37Bs flown by North Vietnamese pilots bombed the airport runways and strafed the city.
Although Martin had been advised that fixed-wing evacuation was now impossible, he insisted on examining the damage himself as shells were still raining in on the base.
Finally satisfied that Tan Son Nhut was out of service, the ambassador returned to the embassy, called Secretary of State Henry Kissinger and informed him that he had decided to immediately go to option four, Operation Frequent Wind, the helicopter evacuation of Americans and Vietnamese employees.
At noon the prearranged evacuation signal was broadcast over local Saigon radio: “It is 105 degrees and rising,” followed by Bing Crosby singing “White Christmas.”
When they heard it, American officials, businessmen and journalists dropped everything and ran, knowing they now had only hours to get out.
Senior Vietnamese officials were to report to the embassy and be grouped for evacuation on a priority basis.
As the frenzied operation began, U.S. helicopters crammed with evacuees began heading out to sea, where the Seventh Fleet task force awaited them.
At the same time, dozens of unknown contacts began appearing on the ships’ radar screens. South Vietnamese army and air force helicopters, flown by their crews and loaded with family and friends, were following the American aircraft out to sea hoping to find a suitable ship on which to land.
Cast off all lines
With the U.S. evacuation by helicopter in full swing and North Vietnamese shellfire increasing, Captain Do advanced the ship departures by four hours.
Addressing the VNN headquarters staff, he had to shout to be heard above the pounding of artillery and the roar of helicopters.
“It’s time to go! The enemy is closing in,” Do said. “You have two hours to gather your families and bring them to the ships. Don’t panic—there’s room for everyone.”
Someone asked, “Does this mean we’re leaving the country?”
Do shouted: “Yes, we have no choice. It’s that or capture.”
It was past midnight when Do, on one of the last ships to leave, shouted: “Cast off all lines. Left rudder full; engine one-third.”
He sank into the captain’s chair of his old ship from coastal patrol days as small boats filled with people begging to be taken aboard chased after them.
Some they stopped for, some they did not.
Do could hardly believe that no one was shooting at them. He ordered a ship and communications blackout as the flotilla passed Vung Tau. They were now out of reach of enemy guns.

It was time to worry about North Vietnamese air force and naval patrols.
An ‘institutional disgrace’
In spite of von Marbod’s last-minute salvage efforts, equipment losses from the collapse of South Vietnam would be massive.
According to Pentagon estimates, NVA forces captured more than $5 billion in U.S.-supplied hardware, including 550 tanks, 73 F-5 fighters, 1,300 artillery pieces and enough materiel to field an entire army, air force and navy.
But the human toll left behind was of more tragic proportions.
The U.S. State Department estimated that during the war, Vietnamese employees of the American embassy and their families numbered 90,000. Ambassador Martin later admitted only 22,000 such people were evacuated before Saigon fell.
According to Hanoi, more than 200,000 South Vietnamese were sent to “reeducation camps” after the war.
“In terms of squandered lives, blown secrets and the betrayal of agents, friends and collaborators, our handling of the evacuation was an institutional disgrace,” said Frank Snepp, senior CIA analyst in Saigon, in his book Decent Interval.
“Not since the abortive Bay of Pigs invasion of Cuba in 1961 had the agency put so much on the line, and lost it through stupidity and mismanagement.”
Like catching basketballs
Standing by at sea, Kirk’s mission was to shoot down any North Vietnamese jets that might try to stop the exodus of helicopters, but the jets never came.
Instead, the horizon was filled with scores of helicopters seeking some place to land.
Dozens of UH-1s flew past Kirk, which had only a small flight deck, heading for the larger aircraft carriers.
Cmdr. Jacobs knew that many of the aircraft were dangerously low on fuel, so he ordered his men to make radio contact and invite them to land.
There was concern among Kirk’s crew that the South Vietnamese pilots might not have had the skill to land on a moving flight deck.
“Most of the pilots had never landed on a ship before,” recalls Donald Cox, an officer on Kirk. “They were army pilots and typically landed at fire zones, clearings in the brush or at an airport.”
A Huey flew to Kirk, landed safely and unloaded its passengers.
Then a second Huey landed alongside.
But as a third aircraft alighted on the small deck, its rotors chopped the tail off the second one. So with no room on deck to land others that were circling the ship, the crew started pushing the helicopters overboard into the sea.
Amid the chaos, a CH-47 Chinook lumbered toward Kirk. The crew frantically waved off the massive two-rotor aircraft, which could tear the ship apart attempting a landing. The pilot got the message but was determined to unload his passengers before running out of fuel.
While Kirk cruised at about 5 knots, the Chinook hovered over the fantail and started dropping its human cargo to the deck 15 feet below. With sublime trust in the outstretched arms of the men below, a mother in the helicopter dropped her three children, including a 10-month-old baby.
Kirk sailors said it was like catching basketballs.
With his passengers offloaded, the pilot flew some 60 yards off Kirk’s deck, hovered a moment, then leaned the Chinook to the left and jumped out the right-hand door into the sea.

As soon as the rotor blades hit the water, the aircraft exploded, ripping into small pieces. Crewmen dove into the water and saved the pilot.
Kirk’s crew rescued more than 200 refugees from 16 helicopters over a day and a half.

Secretary of State Henry Kissinger talks about the evacuation of Saigon on April 29, 1975. (Ford Library)
'We forgot ‘em.’
Since the siege of Saigon had begun, more than 50,000 people had been air-evacuated — some 7,000 of them flown out in heli­copters on April 29.
The very last American troops, 11 U.S. Marines, lifted off the embassy roof by helicopter at 7:53 a.m., April 30.
Just three hours later, a single PAVN tank crashed through the gates of Saigon’s Presidential Palace.
It had been 30 years since the first American soldiers in the OSS “Deer Team” had parachuted into Vietnam to support and train Ho Chi Minh and his guerrilla forces at the close of World War II.
As the ships of Task Force 76 headed east with their loads of refugees and South Vietnamese helicopters, Kirk received a surprising radio message. The destroyer was to turn around and head back to Vietnam.
Rear Adm. Donald Whitmire, commander of the evacuation mission aboard the command ship Blue Ridge, explained to Jacobs: “We’re going to have to send you back to rescue the Vietnamese navy. We forgot ’em. And if we don’t get them or any part of them, they’re all probably going to be killed.”
With that, Kirk set a bearing for Con Son Island, a sheltered complex of islands with an infamous history 50 miles off the coast and 150 miles south of Vung Tau.
The French called it Poulo Condore and established a brutal penal colony there in 1861. During the Vietnam War, the South Vietnamese used it as a prison where many inmates were shackled in the infamous “tiger cages.”
Late on April 30, a 30-year-old civilian came aboard Kirk, without official orders, and met Commodore Donald Roane, the flotilla commander.
The commodore wired the Pentagon to confirm the identity of Richard Armitage and his orders.
“Young man, I’m not used to having strange civilians come aboard my ship in the middle of the night and give me orders,” Roane said to Armitage.
“Sir, I am equally unaccustomed to coming aboard strange ships in the middle of the night and giving orders,” Armitage replied. “But steam to Con Son.”
Rusty, ugly and beat up
As the sun rose on May 1, Kirk reached Con Son to find 32 South Vietnamese navy vessels and dozens of cargo ships and fishing boats waiting as they expected. What they didn’t expect was that all of them would be overflowing with refugees, estimated to number 30,000, desperate to leave Vietnam.
“They were rusty, ugly, and beat up,” said Kent Chipman, a machinist’s mate on Kirk, sent out to inspect and repair the vessels. “Some wouldn’t start and were towing each other. And some were taking on water. We took our guys over and got the ones under way that would run. One cargo ship was so heavy it was sinking, and people below decks were bailing water with their shoes.”
Kirk was ideal,” recalled Armitage. “It could communicate with the rest of the U.S. fleet and be able to rescue any of the folks who might be in harm’s way. Some had been wounded. Some were pregnant. All were sick after awhile. And we needed to take care of them.”
When Stephen Burwinkel, Kirk’s medic, saw the scene in front of him, he feared a humanitarian disaster was looming.
Burwinkel immediately set out to get control of the situation, moving from ship to ship treating those suffering from dysentery, dehydration and diarrhea and those who had been injured.
Dozens of pregnant women were gathered from the flotilla and transferred to one ship to make care easier.
With thousands of needy charges, many of them babies and children, Burwinkel worked almost nonstop. Incredibly, over seven days, only three of the 30,000 refugees perished.
One of the deaths was Bao Le, the infant son of Soan Le. Suffering a massive fever, the boy and his mother were moved to the captain’s stateroom on Kirk. When the year-old boy died, the rest of the family was brought aboard Kirk for a burial service at sea.
Years later, Pierre Le recalled the funeral the sailors held for his son on the ship’s fantail: “The body of my son was wrapped under two flags; the Vietnamese flag and the American flag. Someone played taps. My son’s body was on a board, as the board tipped, the body slid into the dark South China Sea.”
After fixing what could be fixed and transferring people from the ships that would be left behind, Kirk led the flotilla toward the Philippines.
As they headed out to sea, other U.S. Navy ships, including Mobile, Tuscaloosa, Barbour County, Denver and Abnaki, came in the escort to deliver food and help attend the sick.

Nay cong dan oi
Finally reaching the Philippines after seven days and about 1,000 miles, Jacobs got some bad news.
“The Philippine government wasn’t going to allow us in, period,” Jacobs recalled, “because these ships belonged to the North Vietnamese now and they didn’t want to offend the new country.”
Indeed, Philippine President Ferdinand Marcos, a staunch U.S. ally during the war, was one of the first to recognize the new Communist rulers now in control of Vietnam.
Marcos had been disappointed to see the United States abandon its ally but thought it prudent to establish a correct and respectful relationship with the new Communist Vietnam.
And the new power in Southeast Asia wanted its ships back.
Armitage knew there was no way the leaking ships, with their decks teeming with exhausted refugees, could limp on to Guam, so he and Capt. Do came up with a solution that Marcos could live with.
“We would raise the American flag and lower the Vietnamese flag as a sign of transfer of the ships back to the United States,” Do said. “Now the war is over, we turn them back to the U.S.”
In addition to the deft legal maneuver, Do saw the opportunity to do something important for the now nationless refugees.
“We lost our country, lost our pride and lost everything,” he said. “We asked to have a ceremony that would save us face and our dignity.”
A frantic search ensued to find 32 American flags, and then officers from Kirk were sent aboard each Vietnamese ship to take command after a formal flag ceremony.
After speeches were made, the ships’ guns were disassembled, and identifying letters painted over.
“That was the last vestige of South Vietnam,” said Rick Sauter, one of Kirk’s officers who took command of a Vietnamese ship. “When those flags came down and the American flags went up, that was it. Because a Navy ship is sovereign territory, that was the last sovereign territory of the Republic of South Vietnam.”

Before the Republic of Vietnam flags were lowered, thousands of people on the ships started to sing the national anthem of South Vietnam, Nay cong dan oi….(Oh, citizens of the country….). “Their voices soared over the waters,” Captain Do recalled. “When they lower the flag, they cry, cry, cry."

The South Vietnamese landing ship Luu Phu Tho tied up to Buoy 13, Subic Bay Naval Base, Philippine Islands, on May 21, 1975, after the fall of South Vietnam. (National Archives)
Hearts and minds
On May 7, the ships, all flying American flags, were allowed to enter Subic Bay. They were eventually transferred to the Philippine navy.
For the Vietnamese it was just the beginning of a long journey to new lives.
For the men of Kirk, ending their tour of duty by saving 30,000 Vietnamese refugees had a profound impact on their lives.
“We had gone to Vietnam with the expectation of combat,” Cox recalled. “When we got there we found combat wasn’t needed, but hearts and hands instead. Our experience was totally different from our brothers who walked the fields in combat. We were there to save life, not destroy it.”
“This was the highlight of my career,” Kirk’s Jacobs said recently. “Most of us never get the chance to command under such stressful circumstances and I’m very proud of what we did.”
Blaming Armitage for the sudden arrival of the VNN fleet and refugees, the Philippine government placed him under house arrest at Subic Bay.
“It was fine with me,” Armitage said later. “I ate hamburgers and drank beer for three days.”
He also had time to quietly ponder the great escape and humanitarian mission he had successfully led.
Of Kirk’s officers and men, Armitage said, “What a great cap to their careers. The ship had not seen combat on its tour to Vietnam. But it ended with the rescue of tens of thousands of refugees, one of the greatest humanitarian missions in the history of the U.S. military. They weren’t burdened with the former misadventure of Vietnam.”
Kirk’s amazing story is perhaps one of the most daring of the entire Vietnam War, and one of the least known.
Most Americans only remember the chaos and shame of the last-minute scramble out of Saigon. Kirk’s mission was indeed secret and after its completion, there was likely little desire to stir the diplomatic pot by touting the taking of Vietnam’s navy.
In the deluge of news, the Kirk saga went virtually unreported at the time. But, helping to ensure the mission’s obscurity, for 35 years the U.S. Navy had actually misfiled its official accounting that Kirk had even participated in Operation Frequent Wind.
Consequently, until Pentagon records were corrected, the crew was ineligible for the Vietnam Service Medal.
Finally, between 2009 and 2011, the Navy presented those medals to the officers and enlisted men who were on Kirk during the operation.
Accounts of the Kirk’s stirring tale began to emerge. National Public Radio produced a compelling four-part series, “Forgotten Ship, Daring Rescue,” that aired in 2010.
The Lucky Few, a film produced by the U.S. Navy Medicine and Support Command and its historian Jan Herman, was released in late 2010, too.
As for Kirk, uncelebrated in spite of its heroic history, it was without ceremony sold to the navy of Taiwan in 1993, and renamed Fen Yang.
Out of a tragic loss, its long-forgotten mission should also be remembered as a victory of the spirit.

Don North was a freelance photographer and later a staff war correspondent for ABC and NBC in Vietnam for more than four years and is a frequent contributor to Vietnam and VietnamMag.comwhere this article first appeared. They’re sister publications to Navy Times.

https://www.navytimes.com/news/your-navy/2018/12/29/remember-that-time-we-forgot-a-navy-and-had-to-go-back-and-get-it/