Wednesday, September 26, 2007

Trò ngậm máu phun người của Tổng Thống Mỹ

Trong một phát biểu gần đây, Tổng thống Mỹ Bush, đã nói rằng nếu quân Mỹ rút khỏi Iraq bây giờ, hậu quả sẽ giống như thời diệt chủng ở Cambodia. Tổng Thống Mỹ dưới sự chỉ đạo của một thế lực nắm quyền lực thực sự đằng sau đã từ lâu rất quen bịa chuyện lấy cớ, ăn nói ngược ngạo, ngậm máu phun người. Đe dọa người ta thì nói là bị người ta đe dọa, tấn công người ta thì nói là bị tấn công, không có cớ đánh người thì bịa ra để đánh, giết người ta thì bảo là bảo vệ, tối ngày đòi cấm vận nước này nước nọ cho dân người ta bị đói bị bệnh chết nhăn răng thì bảo là tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Tại sao Mỹ lại có thể làm được những chuyện ngược ngạo sống sượng như vậy? Bởi vì trên thế giới có rất nhiều người ngu hay thấy sang bắt quàng làm họ. Ở VN loại người này không hiếm. Họ tin những lời dối trá đãi bôi của Tổng thống Mỹ và các chính trị gia Mỹ khác như thánh vậy! Bất kể những hành động ngược ngạo của họ đã làm trong lịch sử và những chuyện đang xảy ra ngay trước mắt!

Bởi vậy những chính khách Mỹ sẽ tiếp tục mạnh dạn nói ngược, bịa chuyện để tiếp tục thực hiện những mưu đồ chính trị, quân sự tiếp theo, để tiếp tục làm cha thiên hạ, trong đó có Việt Nam.

Bài dưới đây là của một người Mỹ hiểu biết lịch sử. Ở Mỹ rất nhiều người ủng hộ chiến tranh nhưng họ chả biết gì về lịch sử đẫm máu của nước họ trên thế giới cả. Ngay cả Tổng thống Bush hiện nay là một người nổi tiếng mù tịt về lịch sử, địa lý thế giới. Ông ta cũng chỉ là một con rối trên bàn cờ chính trị của những kẻ dấu mặt đứng sau lưng ông ta.

-----------------------------------------------------------

Nói láo, nói láo và nói láo thêm nữa trong một nước Mỹ mù tịt về lịch sử

By Larry Beinhart, Posted August 25, 2007.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/larry-beinhart/lies-lies-and-more-lies_b_61810....

George Bush và những người ủng hộ Chiến tranh Iraq khác- lý luận rằng nếu chúng ta rút ra khỏi Iraq thì kết quả sẽ là những cuộc tàn sát giống như - những cách đồng giết người - ở Căm-pu-chia..

Ðây là sự thật:

. Những cánh đồng giết người là sự thật. Sự diệt chủng chống lại chính những người dân họ là do Khơ-me Ðỏ thực hiện.

. Người Việt Nam - Cộng Sản Việt Nam - là những người đã tiến vào và chấm dứt nó.

. Nước Mỹ đã hỗ trợ Khơ-me Ðỏ sau đó.

Câu chuyện đã bắt đầu như sau:

Nước Mỹ nhảy vào cuộc chiến tranh ở Việt nam trong một sự nỗ lực để giữ Nam Việt Nam không theo cộng sản. Chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra nếu cuộc tổng tuyển cử được tổ chức như được hứa hẹn.

Căm-pu-chia nằm cạnh Việt Nam. Lúc đầu dưới sự cai trị của Thái tử Sihanouk. Ông ta muốn giữ thế trung lập cho nước này. Cả hai phe (Mỹ, Việt) đều đã vi phạm sự trung lập này.

Bắc Việt gửi vũ khí, hỗ trợ và người xuyên Căm-pu-chia trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" để vòng qua bên hông lực lượng quân đội Nam Việt và Mỹ. Họ cũng dùng các hải cảng của Căm-pu-chia.

Nước Mỹ, không đánh nhau với Căm-pu-chia, chính thức và không chính thức, đã bí mật gửi quân vào Căm-pu-chia để làm gián đoạn việc sử dụng con đường đó của Bắc Việt. Ðến 1969, Nixon bắt đầu chiến dịch ném bom trải thảm nhiều vùng của Căm-pu-chia. Ðể cuối cùng khoảng 750,000 người Căm-pu-chia đã chết bởi những cuộc ném bom đó (mặc dù con số đó khó kiểm chứng đượ
c).

Nãm 1970, trong khi Sihanouk ở nước ngoài, đang viếng thãm Châu Âu, LX, và TQ, Lon Nol cướp chính quyền sau một cuộc đảo chính của cánh hữu.

Có những câu chuyện khác nhau về sự dính líu của Mỹ trong vụ này. Câu chuyện thứ nhất là chúng ta đã hỗ trợ cuộc đảo chính đó, câu chuyện thứ hai (theo cuốn sách của Tom Weiner tựa là Legacy of Ashes, The History of the CIA) là CIA và nước Mỹ bị bất ngờ trong vụ này. Tài liệu mới được giải mật gần đây ủng hộ cách nhìn của Weiner.

Trong bất cứ trường hợp nào, sau khi Lon Nol lên nắm quyền lực, Mỹ đã ủng hộ ông ta. Ðể ðáp lễ, Lon Nol chấm dứt thế trung lập, đóng các cảng biển đối với cộng sản và đòi Việt Cộng và Bắc Việt rời khỏi nước này, và để quân Mỹ hoạt động bán chính thức trên đất Căm-pu-chia.

Và Lon Nol đã phải đối mặt với những phản kháng. Xuất phát từ những phản ứng tự nhiên của tình cảm quốc gia. Và phần khác là được xúi giục bởi những phần tử cộng sản khác nhau.

Sihanouk, lúc đó đang ở Trung Quốc, đã liên kết với Khơ-me Ðỏ, những người cộng sản Căm-pu-chia, và điều này đã phong tặng cho họ tính hợp pháp mới.

Nội chiến nổ ra. Lon Nol tỏ ra yếu kém và thối nát. Nên mặc dù có sự hỗ trợ tài chính và quân đội Mỹ, ông ta vẫn thua.

Mỹ rút khỏi Việt nam vào 1973.

Khơ-me Ðỏ lấy thủ đô của Cãm-pu-chia năm 1975. Họ là một trong những chế độ kinh khủng nhất trong lịch sử. Họ thực hành một kiểu diệt chủng theo giai cấp, "cải tạo" và giết bất cứ ai được đào tạo hay tây phương hóa, cũng như những nhóm thiểu số khác.

Vào 1978, Việt Nam, khi đó hoàn toàn dưới những người Cộng sản, tiến vào Căm-pu-chia để chặn bàn tay Khơ-me Đỏ và đuổi họ ra khỏi nước này. Họ thiết lập một chế độ ôn hòa và lành mạnh hơn.

Nước Mỹ, Vương quốc Anh và Trung Quốc đã hỗ trợ những tàn dư của Khơ-me Đỏ. Với trợ giúp của họ, cuộc xung đột này đã tiếp tục thêm 10 năm nữa.

Khi nào George Bush, hay bất cứ ai khác, sử dụng sự hủy diệt hàng loạt ở Căm-pu-chia như một cảnh báo về hậu quả, những điều sẽ xảy ra nếu Mỹ rút khỏi Iraq, chúng ta hãy nhớ đến những sự thật dưới đây:

1. Một phần của sự hủy diệt hàng loạt ở Cãm-pu-chia có thể trực tiếp quy cho hậu quả của những chiến dịch ném bom của Mỹ làm 750.000 người chết. (Có thể so sánh được với số lượng những người Iraq bị giết chết bởi những lực Mỹ trong cuộc chiến tranh hiện nay).

2. Cuộc nội chiến dẫn tới chiến thắng của Khơ-me xảy ra, ít nhất một phần, là vì sự hỗ trợ của Mỹ cho Lon Nol.

3. "Kẻ thù", những người cộng sản Việt Nam, là lực lượng đã chặn đứng bàn tay của Khơ-me Đỏ.

4. Nước Mỹ hỗ trợ Khơ-me Đỏ -- sau những hành động giết người của họ, sau cuộc diệt chủng. Sự hỗ trợ đó đã giúp cuộc nội chiến tiếp tục thêm một thập niên nữa. Thêm chết chóc, thêm tàn phá.

Wednesday, September 19, 2007

THATCHER ĐÃ GIÚP POL POT NHƯ THẾ NÀO

Mỹ, Anh, Úc, TQ, Singapore, Thái lan đã ủng hộ chính trị, nuôi dưỡng, huấn luyện quân sự, cung cấp vũ khí cho tàn quân Pol Pot sau khi chúng trốn chạy về vùng biên giới Thái-Cam và đóng trên đất Thái.

Sự thật trên làm họ rất khó ăn nói trong vấn đề xét xử lãnh đạo Khơ-me Đỏ và chính là lý do chính trị làm trì hoãn việc này.

Tòa án xét xử các lãnh đạo Khơ-me Đỏ được lập ra vào năm 1997 nhưng mãi đến 10 năm sau, 2007, người đầu tiên mới bị chính thức buộc tội vì họ vẫn nắm trong tay những bằng chứng về sự liên hệ giữa họ với phương tây, TQ và các chư hầu.

Để so sánh, Mỹ tấn công Iraq năm 2003, Saddam Hussein bị bắt cuối năm đó, và đem ra tòa xử tử hình vào tháng 12/2006, trong điều kiện chiến tranh giữa nhiều phe phái đang diễn ra nhưng phiên tòa vẫn có thể tiến hành được, còn tòa xử lãnh đạo Khơ-me Đỏ cho đến năm 2007 cũng chưa nhúc nhích.

Câu chuyện này một lần nữa phô bày bộ mặt đạo đức giả của đế quốc phương tây luôn thích giảng dạy dân chủ nhân quyền nhưng lại chuyên môn có những hành động đi ngược lại lời nói.  Những chiêu bài đẹp đẽ đó chỉ được dùng để che đậy các mục đích chính trị thâm hiểm bên trong nhưng nhiều người Việt ngu dốt vẫn tin sái cả cổ.  

-------------------------------------------------------------------

THATCHER ĐÃ GIÚP POL POT NHƯ THẾ NÀO
John Pilger


http://www.newstatesman.com/politics/politics/2014/04/how-thatcher-gave-pol-pot-hand

17 tháng Tư năm nay (2000) là 25 năm từ khi Khơ-me Đỏ của Pol Pot tiến vào Phnôm-pênh. Trong lịch của sự cuồng tín, đó là Năm Số Không; khoảng hai triệu người, một phần năm dân cư của Căm-pu-chia, sẽ chết như một hệ quả của ngày hôm đó. Để đánh dấu ngày kỷ niệm này, tội ác của Pol Pot sẽ được nhắc đến, gần như một hành động mang tính nghi thức cho những người tò mò về những trò chính trị đen tối và không giải thích được.

Đối với những kẻ nắm trong tay sức mạnh phương tây, những bài học đúng sẽ không được rút ra, vì không có những kết nối nào sẽ được tạo ra cho họ và lớp tiền nhiệm, những người đã từng là đối tác kiểu Faust (nhân vật huyền thoại thời trung cổ đã bán linh hồn cho ác quỉ để đổi lấy kiến thức và sức mạnh) với Pol Pot. Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật, nếu không có sự đồng lõa của phương Tây, Năm Số Không có thể đã chưa bao giờ xảy ra, hay sự đe dọa trở lại của nó đã không được nuôi dưỡng lâu dài đến như vậy.

Những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ để lại rất ít nghi ngờ rằng việc ném bom bí mật và bất hợp pháp lên lãnh thổ Cam-pu-chia trung lập lúc đó bởi Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger từ 1969 đến 1973 đã gây ra chết chóc và tàn phá trên bình diện rộng, và nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành sức mạnh của lực lượng Pol Pot. "Họ đang sử dụng thiệt hại gây ra bởi những vụ ném bom B52 như là đề tài chính để tuyên truyền" Giám đốc hoạt động của CIA tường trình tháng 2/1973. "Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tuyển mộ thành công thanh niên. Dân chúng nói rằng chiến dịch tuyên truyền đã có hiệu quả với những người tị nạn trong những vùng là mục tiêu của B52."

Qua việc thả một khối lượng bom tương đương với năm quả bom nguyên tử ở Hiroshimas lên một cộng đồng nông dân, Nixon và Kissinger đã giết chết ước tính khoảng nửa triệu người. Năm Số Không bắt đầu, trên thực tế, là với họ (Nixon và Kissinger); việc ném bom bừa bãi trở thành chất xúc tác cho sự nổi lên của một phe phái nhỏ, Khơ-me Đỏ, với chủ trương kết hợp giữa Chủ nghĩa Mao và nếp sống thời Trung cổ mà trước đó không có sự ủng hộ trong quần chúng.

Sau hai năm rưỡi nắm quyền, Khơ-me Đỏ bị lật đổ bởi quân đội Việt Nam vào Ngày Lễ Nô-en 1978. Và những tháng năm sau đó, Mỹ cùng với Trung Quốc và những đồng minh của họ, đáng chú ý là chính quyền Thatcher (Thủ tướng Anh lúc đó), đã chống lưng cho Pol Pot đang trốn trên đất Thái. Hắn là kẻ thù của kẻ thù phương tây: Việt Nam. Công giải phóng Cam-pu-chia của nước này đã không thể được công nhận, vì họ ở bên kia chiến tuyến của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đối với người Mỹ, lúc này đang ủng hộ Bắc Kinh chống lại Moscow, có một bàn thua cần phải gỡ cho mối nhục của họ khi phải tháo chạy khỏi Sài gòn trên những mái nhà.

Về việc này, Liên Hiệp Quốc đã bị lạm dụng bởi những cường quốc. Mặc dù chính phủ Khơ-me Đỏ ("Kampuchea Dân chủ") đã không tồn tại từ tháng Giêng 1979, những người đại diện của nó vẫn được phép tiếp tục chiếm giữ chiếc ghế của Cam-pu-chia tại LHQ; Thực vậy, Mỹ, Trung Quốc và Anh đã đòi hỏi như thế. Cùng lúc đó, một lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an lên nước này đã làm tăng thêm sự khốn khổ mất mát của một đất nước đang bị tổn thương nặng nề, trong khi Khơ-me Đỏ đang lẩn trốn thì gần như muốn gì được nấy. Vào 1981, cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Zbigniew Brzezinski, nói: "Tôi động viên người Trung Hoa hỗ trợ Polpot". Nước Mỹ, ông ta thêm rằng, "nháy mắt công khai" khi Trung Quốc chuyển vũ khí cho Khơ-me Đỏ.

Sự thật là Mỹ đã bí mật tài trợ cho Pol Pot lúc đang trốn chạy từ tháng Giêng, 1980. Qui mô của sự hỗ trợ này -- 85 triệu USD từ 1980 đến 1986 -- đã được tiết lộ ra qua một bức thư gửi tới một thành viên của Ủy ban Quan hệ Nước ngoài của Thượng viện. Trên biên giới Thái Lan với Cam-pu-chia, CIA và các cơ quan tình báo khác thiết lập một cơ quan gọi là Nhóm Cứu cấp Cam-pu-chia, mà nhiệm vụ là bảo đảm hàng cứu trợ nhân đạo sẽ đến những khu của Khơ-me Đỏ trong những trại tị nạn và bên kia biên giới. Hai người Mỹ làm việc cứu trơ, Linda Mason và Roger Brown, sau đó viết "Chính phủ Mỹ nhấn mạnh rằng Khơ-me Đỏ phải được nuôi..." Mỹ thích việc nuôi cơm cho Khơ-me Đỏ đó được hưởng dưới uy tín của hoạt động cứu trợ mà cả thế giới biết đến. "Dưới sức ép Mỹ, Chương trình Thực phẩm Thế giới đã chi hơn 12 triệu USD giá trị thực phẩm cho quân đội Thái Lan để chuyển qua cho Khơ- me Đỏ; "20.000 tới 40.000 kháng chiến quân Polpot đã hưởng lợi", Richard Holbrooke, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó, viết.

Tôi đã chứng kiến điều này. Đi cùng đoàn xe của LHQ gồm 40 xe tải, Tôi đến một khu căn cứ hoạt động của Khơ-me Đỏ ở Phnom Chat. Người chỉ huy cơ sở này là Nam Phann, một người khét tiếng, được nhân viên cứu trợ biết đến với cái tên "Đồ tể" và "Himmler của Pol Pot". Sau khi hàng cung cấp đã được bốc dỡ hết, ngay dưới chân mình, ông ta nói "Cám ơn bạn rất nhiều, và chúng tôi muốn có thêm nữa".

Trong tháng mười một của năm đó, 1980, tiếp xúc trực tiếp giữa nhà Trắng và Khơ-me Đỏ đã được bố trí khi Bác sĩ Ray Cline, cựu phó giám đốc của CIA, làm một cuộc viếng thăm bí mật đến một trụ sở hoạt động chính của Khơ-me Đỏ. Lúc đó Cline là một cố vấn về chính sách đối ngoại trong nhóm chuyển tiếp của Tổng thống vừa đắc cử là Reagan.
Đến năm 1981, nhiều chính quyền trên thế giới đã trở nên rõ ràng khó chịu với trò đố chữ của LHQ đang tiếp tục công nhận cái chế độ đã chết từ lâu của Pol Pot. Cần phải làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Năm sau đó, Mỹ và Trung Quốc sáng chế ra Liên minh của Chính phủ Dân chủ Cam-pu-chia, mà thực sự không phải là một liên minh, cũng không phải dân chủ, hay là một chính phủ, hay hiện hữu trên đất Cam-pu-chia. Nó là cái mà CIA gọi là "một ảo tưởng bậc thầy". Hoàng tử Norodom Sihanouk được chỉ định làm cái đầu của nó; ngoài ra không có gì khác nhiều cả. Hai nhóm "không cộng sản", nhóm một là những người theo Sihanouk, thì được dẫn dắt bởi con trai của Hoàng tử là Norodom Ranariddh, nhóm thứ hai là Mặt trận Giải phóng Quốc gia của người Khơ-me, mà về ngoại giao và quân sự, bị khống chế bởi phe Khơ-me Đỏ. Một trong số những bạn thân của Pol Pot, Thaoun Prasith, là người điều hành văn phòng đại diện của họ tại LHQ ở New York.

Ở Bangkok, người Mỹ cung cấp cho "liên minh" này những kế hoạch tác chiến, đồng phục, tiền và tình báo từ vệ tinh; vũ khí thì đến trực tiếp từ Trung Quốc hay từ phương tây, theo đường Singapore. Phe không cộng sản đáng xấu hổ trên đã trở thành cái cớ cho phép Quốc hội -- được thúc đẩy bởi một người cuồng tín về Chiến tranh Lạnh là Stephen Solarz, một chủ tịch ủy ban có thế lực -- phê duyệt 24 triệu USD giá trị viện trợ cho "kháng chiến".

Cho đến 1989, vai trò của Anh ở Cam-pu-chia vẫn còn nằm trong bí mật. Những tường trình đầu tiên xuất hiện trên tờ Sunday Telegraph của Simon O'Dwyer- Russell, một phóng viên ngoại giao và quốc phòng có những tiếp xúc nghề nghiệp và gia đình gần gũi với SAS (lực lượng đặc biệt của Anh). Ông ta tiết lộ rằng SAS đang huấn luyện lực lượng do Pol Pot cầm đầu. Không lâu sau đó, tờ Jane's Defense Weekly lại cho biết rằng việc huấn luyện của Anh cho những thành viên "không cộng sản" của "liên minh" đó đã được thực hiện "tại những căn cứ bí mật trên đất Thái trong hơn bốn năm rồi". Huấn luyện viên được cử đến từ SAS, "Tất cả bọn họ đều là những nhân viên quân sự đang tại ngũ, cựu chiến binh của cuộc xung đột Falklands, được dẫn dắt bởi một đại úy".

Việc huấn luyện ở Cam-pu-chia đã trở thành riêng của Anh sau khi vụ "Irangate", vụ vũ khí đổi con tin, vỡ lở ra ở Washington vào năm 1986. Nếu Quốc hội biết được chuyện người Mỹ có dính dáng đến chương trình huấn luyện bí mật ở Đông Dương, chưa nói đến việc đó là huấn luyện cho lực lượng Pol Pot", một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng cho O'Dwyer- Russell cho biết, "Cái bong bóng đó chắc đã bay ngay lên. Đó là một trong những vụ dàn dựng ăn ý cổ điển giữa Thatcher và Reagan". Hơn nữa, Margaret Thatcher đã buột miệng, trước sự kinh ngạc của Bộ Ngoại giao, rằng "những người ôn hòa hơn trong lực lượng Khơ-me Đỏ sẽ phải đóng vai trò nào đó trong chính phủ tương lai".

Vào 1991, tôi phỏng vấn một thành viên của Đội "R" (đội dự bị) của SAS, một người đã từng phục vụ ở vùng biên giới. "Chúng tôi đã huấn luyện Khơ-me Đỏ về rất nhiều những nội dung kỹ thuật -- rất nhiều về mìn," anh ta nói. "Chúng tôi đã sử dụng mìn nguyên thủy đến từ Kho đạn dược Hoàng gia ở nước Anh, đi qua đường Ai-cập để đổi nhãn mác... Chúng tôi thậm chí còn huấn luyện họ về tâm lý. Lúc đầu, họ chỉ muốn đi vào làng để chém người thôi. Chúng tôi đã bảo họ cách làm sao để cảm thấy thư thái hơn..."

Bộ Ngoại giao đã phản ứng trước những thông tin này bằng cách nói láo. "Nước Anh không có một sự giúp đỡ quân sự dưới bất kỳ hình thức nào cho các đảng phái ở Cam-pu-chia", một nghị viên phát biểu. Thủ tướng Anh lúc đó, Thatcher, viết cho Neil Kinnock, "Tôi xác nhận rằng không có sự liên can nào giữa chính phủ Anh dưới bất kỳ hình thức nào tới việc huấn luyện, trang bị hay hợp tác với Khơ-me Đỏ hay những nhóm đồng minh với họ." Vào 25 tháng Sáu, 1991, sau hai năm chối quanh, chính phủ cuối cùng cũng phải thừa nhận rằng SAS đã bí mật huấn luyện "quân kháng chiến" từ 1983. Một tường trình bởi Asia Watch đã mô tả chi tiết: SAS đã dạy "cách sử dụng những thiết bị nổ tự tạo, bẫy và chế tạo, sử dụng những thiết bị kích nổ chậm". Tác giả của bản tường trình, Rae McGrath (người cùng đoạt Giải thưởng Nobel Hoà bình từ cuộc vận động quốc tế về mìn), viết trên tờ Guardian rằng "Việc huấn luyện của SAS là một chính sách phạm tội vô trách nhiệm và đê tiện".

Khi cuối cùng, một "lực lượng gìn giữ hoà bình" của LHQ cũng đã đặt chân đến ở Cam-pu-chia vào 1992, bản hiệp ước bán linh hồn cho ác quỉ đã lộ rõ ra hơn bao giờ hết. Được gọi đơn thuần nhẹ nhàng là một "thành phần trong cuộc chiến", Khơ-me Đỏ được chào đón quay trở lại Phnôm-pênh bởi viên chức của LHQ, nếu không phải là bởi người dân. Một chính khách phương tây, người đã giành công kiến tạo "tiến trình hoà bình", Gareth Evans (ngoại trưởng Úc lúc đó), lên tiếng trước bằng việc yêu cầu nên có một cách tiếp cận "vô tư" đối với Khơ-me Đỏ và đặt ra câu hỏi rằng liệu gọi việc họ làm là diệt chủng có phải đã tạo ra "một viên đá cản đường rõ ràng" không.
Khieu Samphan, thủ tướng của Pol Pot trong những năm diệt chủng, tiếp nhận dàn chào của quân đội LHQ với người chỉ huy của họ, tướng người Úc John Sanderson, đứng bên cạnh ông ta. Eric Falt, người phát ngôn của LHQ ở Cam-pu-chia, nói với tôi: "Mục tiêu của tiến trình hoà bình là cho phép [Khơ-me Đỏ] gầy dựng lại tiếng tăm."

Hệ quả của việc nhúng tay vào của LHQ là việc tách ra không chính thức ít nhất một phần tư Cam-pu-chia cho Khơ-me Đỏ (theo bản đồ quân sự của LHQ), cùng sự tiếp tục của một cuộc nội chiến âm ỉ và cuộc bầu cử của một chính phủ bị chia rẽ hết thuốc chữa giữa "hai thủ tướng" Hun Sen và Norodom Ranariddh.

Chính phủ Hun Sen kể từ sau đó đã thắng cuộc bầu cử thứ hai một cách dứt khoát. Một người độc đoán và đôi khi thô bạo, tuy vậy theo tiêu chuẩn Cam-pu-chia vẫn là ổn định lạ thường, chính phủ được dẫn dắt bởi một người bất đồng quan điểm với Khơ-me Đỏ cũ, chạy trốn sang Việt Nam từ những năm 1970, đã giải quyết xong những thoả thuận với những nhân vật lãnh đạo thời Pol Pot, đáng chú ý là nhóm ly khai của Ieng Sary, trong khi từ chối việc miễn tố những người khác.

Một khi chính phủ Phnom Penh và LHQ có thể đồng ý về một khuôn mẫu, một tòa án tội ác chiến tranh quốc tế sẽ có nhiều khả năng tiến hành. Người Mỹ không muốn có sự tham gia nhiều của người Cam-pu-chia; mối quan tâm của họ thật dễ hiểu vì không chỉ có Khơ-me Đỏ sẽ bị buộc tội.

Luật sư Cam-pu-chia bảo vệ Ta Mok, người lãnh đạo quân Khơ-me Đỏ bị bắt năm ngoái, đã nói: "Mọi người ngoại quốc liên quan phải được gọi ra trước tòa án, và sẽ không có những ngoại lệ... Madeleine Albright, Margaret Thatcher, Henry Kissinger, Jimmy Carter, Ronald Reagan và George Bush... Chúng tôi sẽ mời họ tới để nói cho thế giới biết rằng tại sao họ đã hỗ trợ cho Khơ-me Đỏ".

Đó là một nguyên lý quan trọng, mà Washington và Whitehall, hiện thời nếu đang nuôi dưỡng những tên bạo chúa tay dính đầy máu ở nơi nào đó trên thế giới, thì nên ghi nhớ lấy.

Meo dịch

Saturday, September 15, 2007

Chiến hữu hôm qua - Trùm khủng bố hôm nay


Các bạn có lấy làm lạ tại sao Mỹ rất rõ ràng về mạng lưới Al Qeada và Osama bin Laden? Vì chính CIA và cơ quan tình báo ISI của Pakistan đã đào tạo, giúp đỡ tổ chức và tài trợ, cung cấp vũ khí cho phong trào "Mujaheddin", mà Al Qeada là một phần sau này của nó. Khi những người Hồi giáo cực đoan làm một cuộc "thánh chiến" chống quân "ngoại đạo" LB Xô Viết và chính quyền Afghanistan ở thập niên 80 bằng những hành động khủng bố thì họ được Mỹ cho tiền và TT Mỹ Reagan ca ngợi là "những chiến sĩ tự do". Nhưng khi cũng chính những người này muốn đuổi lính Mỹ ra khỏi Saudi Arabia bằng những hành động tấn công lính Mỹ trong vùng những nước Hồi giáo thì họ bị Mỹ gọi là "bọn khủng bố"!
Thêm một thí dụ nữa về lối suy nghĩ của đế quốc: Thánh chiến đuổi LBXV ra khỏi đất Hồi là "anh hùng". Thánh chiến đuổi Mỹ ra khỏi đất Hồi là "khủng bố"!
'Đi đêm sẽ có ngày gặp ma'. Những mưu ma chước quỉ mà chính quyền Mỹ nghĩ ra để hại người và phục vụ những ý đồ chiến lược giữ chặt thế giới trong lòng bàn tay của đại tư bản Mỹ - Anh sẽ có ngày trở ngược lại tấn công nước Mỹ. Nhưng những người chịu hậu quả lại là dân thường và tiền thuế của họ. Họ phải nai lưng ra làm để trả nợ cho những cuộc chiến tranh, và những chiến binh đổ máu là con cái của họ chứ không phải của những nhà tư bản đã quyết định đưa họ vào những cuộc phiêu lưu quân sự đẫm máu đó.

Bài sau đây sẽ cho thấy đầu đuôi việc Mỹ giúp tạo dựng thế lực và hợp tác với tổ chức của bin Laden như thế nào. Chú ý, trong phần trích dẫn phát biểu của TT Mỹ ngay đầu bài, ông ta cũng gọi Khơ-me Đỏ là "những chiến sĩ tự do" luôn. Vì sao? Vì lúc đó Mỹ, Anh và Trung Quốc cũng đang ủng hộ Khơ-me Đỏ chống lại quân đội Việt Nam trên đất Kampuchea, SAU KHI cả thế giới đã biết được những hành động diệt chủng dã man của Khơ-me Đỏ (tôi sẽ nói đến vụ này trong bài kế).

-------------------------------------------------------------
CIA đã tạo ra Osama bin Laden như thế nào 19/9/2001
Bời Norm Dixon
"Trên khắp thế giới ... những kẻ cộng tác, chư hầu và vệ tinh của nó đang ở trong tư thế bị động --- bị động về đạo đức, bị động về trí tuệ, bị động về chính trị và kinh tế. Những phong trào tự do đã được dấy lên và tự khẳng định. Họ đang làm như vậy trên hầu hết những lục địa có người ở --- trên những ngọn đồi ở Afghanistan, ở Angola, ở Kampuchea, và ở Trung Mỹ ... [Họ là] những chiến sĩ tự do."
Đây có phải là lời kêu gọi jihad (thánh chiến) được trích ra từ một trong những fatwa (bản văn chỉ thị của tu sĩ Hồi giáo) nổi tiếng của người theo Hồi giáo giáo điều Osama bin Laden? Hay có thể là một thông điệp của chế độ áp bức của Taliban ở Kabul?
Thực ra, lời đề cao sáng giá này là cho những kẻ lạm sát hôm nay đang ủng hộ trùm khủng bố tinh quái bin Laden và những đồng phạm trong Taliban, và cuộc thánh chiến của họ chống lại "đế quốc ma quỉ", được tuyên bố bởi TT Mỹ Ronald Reagan vào 8/3/1985. "Đế quốc ma quỉ" đó là LB Xô Viết, cùng với những phong trào trong Thế giới Thứ III đánh đuổi chủ nghĩa thực dân do Mỹ chống lưng, chế độ kỳ thị chủng tộc, và độc tài.
Mọi thứ đã thay đổi đến kinh ngạc. Sau hàng loạt những vụ thảm sát do khủng bố --- vụ hèn hạ nhất là vụ giết tập thể 6000 người đang làm việc ở New York và Washington vào ngày 11/9, "chiến sĩ tự do" Bin Laden đã bị lãnh đạo Mỹ và truyền thông chính thức phương Tây đưa xuống làm "tên đầu sỏ khủng bố" và "tên làm việc cho ma quỉ".(vì bài này tác giả viết vào ngày 19/9/2001, 8 ngày sau vụ khủng bố nên con số thiệt hại nhân mạng chính thức được công bố lúc đó là 6000 người).
Chính quyền Mỹ đã từ chối không chịu nhìn nhận vai trò trung tâm của họ trong việc gầy dựng ra cái phong trào ác độc đã tạo ra bin Laden, Taliban, và đám khủng bố theo Hồi giáo giáo điều, gieo rắc tai họa ở Algeria, Egypt --- và có lẽ là cả cái thảm họa làm sụp đổ New York.
Truyền thông chính thức cũng đã phớt lờ nguồn gốc của bin Laden và nhãn hiện Hồi giáo giáo điều độc hại của ông ta.
Mujaheddin
Tháng 4, 1978, Đảng Dân Chủ Nhân Dân của Afghanistan (PDPA) cướp chính quyền ở Afghanistan. Đó là hành động phản ứng trước sự đàn áp thẳng tay của chính quyền hà khắc nước này đối với họ.
PDPA đã quyết tâm theo đuổi một chính sách cải cách ruộng đất triệt để có lợi cho nông dân, quyền lợi công đoàn, mở rộng giáo dục và dịch vụ xã hội, bình đẳng cho phụ nữ và sự tách biệt giữa tôn giáo và chính quyền. PDPA cũng ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa Afghanistan và LBXV.
Những chính sách như trên đã làm cho các chủ đất nửa phong kiến giàu có giận dữ, những người thuộc hệ thống tổ chức Hồi giáo (nhiều giáo sĩ cũng là chủ đất lớn), và thủ lĩnh các bộ lạc. Họ ngay lập tức bắt đầu tổ chức hoạt động chống lại những chính sách tiến bộ đó của chính quyền, dưới hình thức bảo vệ Hồi giáo.
Washington, lo sợ ảnh hưởng của LBXV lan truyền (và tệ hơn nữa là thí dụ cấp tiến của chính quyền mới) đến đồng minh của họ ở Pakistan, Iran, và những nước vùng Vịnh, nên đã ngay lập tức lên tiếng ủng hộ mujaheddin ở Afghanistan, tổ chức chống đối đã được biết đến với cái tên như vậy.
Theo sau một cuộc tranh giành quyền lực bên trong PDPA vào tháng 12/1979 đã lật đổ lãnh đạo Afghanistan, hàng ngàn quân Xô Viết đã tiến vào nước này để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền mới. Việc này càng kích động thêm cho những nhóm giáo điều ô hợp. Cuộc thánh chiến phản động bây giờ đạt được chính danh là một cuộc đấu tranh "giải phóng quốc gia" trong mắt của nhiều người Afghanistan.
LBXV cuối cùng phải rút khỏi Afghanistan năm 1989 và mujaheddin chiếm lại thủ đô Kabul năm 1992.
Từ 1978 tới 1992, chính phủ Mỹ đã đổ vào ít nhất 6 tỉ USD (có vài ước tính lên đến 20 tỉ USD) giá trị vũ khí, huấn luyện và tài trợ để đưa những nhóm mujaheddin lên. Các chính phủ phương Tây khác, cùng với Saudi Arabia, cũng đóng góp vào đó. Những người Arab cực đoan giàu có, như Osama bin Laden, cũng ủng hộ hàng triệu USD nữa.
Chính sách của Washington ở Afghanistan được thành hình bởi cố vấn an ninh quốc gia, Zbigniew Brzezinski, dười thời TT Mỹ Jimmy Carter, và được tiếp tục bởi những người kế nhiệm của ông ta. Kế hoạch của ông ta đi quá mức độ đơn giản là buộc quân Xô Viết rút lui; nó nhắm vào việc nuôi dưỡng một phong trào quốc tế làm lan rộng chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan vào những nước cộng hòa Xô Viết Hồi giáo Trung Á để làm suy yếu LBXV.
Kế hoạch vĩ đại đó của Brzezinski trùng hợp với tham vọng của nhà độc tài quân sự Pakistan, Tướng Zia ul-Haq, muốn khống chế khu vực đó. Đài Radio Liberty ở Mỹ và Radio Free Europe phát thanh những đả kích của Hồi giáo giáo điều khắp Trung Á (trong khi lại lên án "cuộc cách mạng Hồi giáo" lật đổ vương quyền Shah thân Mỹ ở Iran năm 1979).
Mujaheddin,
tổ chức được Washington yêu mến, là một trong những nhóm cực đoan nhất, cầm đầu bởi Gulbuddin Hekmatyar. Sự chán ghét của phương Tây đối với khủng bố không áp dụng cho người "chiến sĩ tự do" ghê tởm này. Hekmatyar nổi tiếng trong thập niên 70 về hành động tạt acid vào mặt của những phụ nữ từ chối không đeo mạng che mặt.
Sau khi mujaheddin lấy Kabul năm 1992, lực lượng của Hekmatyar bắn tên lửa do Mỹ cung cấp vào thành phố này --- làm chết ít nhất 2000 thường dân --- cho tới khi chính phủ mới đồng ý nhường ông ta chiếc ghế thủ tướng. Osama bin Laden là một cộng tác gần gũi với Hekyatmar và nhóm của ông ta.
Hekmatyar cũng nổi tiếng với nghề tay trái là trồng trọt và vận chuyển thuốc phiện. Sự ủng hộ mujaheddin trùng hợp với sự bùng phát buôn bán ma túy. Trong vòng hai năm, khu vực biên giới Afghanistan và Pakistan là nguồn cung cấp đơn độc lớn nhất về heroin, cung cấp cho 60% người dùng ma túy ở Mỹ.
Năm 1995, cựu chỉ huy kế hoạch ở Afghanistan của CIA đã không ân hận nói về sự bùng nổ của dòng chảy ma túy: "Nhiệm vụ chính của chúng ta là gây thiệt hại càng nhiều càng tốt cho quân Xô Viết... Có hậu quả phụ là ma túy, đúng. Nhưng mục tiêu chính đã hoàn thành. Quân Xô Viết đã rời Afghanistan."
Làm tại nước Mỹ
Theo Ahmed Rashid, một phóng viên của tờ Far Eastern Economic Review, vào năm 1986 chỉ huy CIA William Casey cam kết sự ủng hộ của CIA cho một dự án từ lâu của ISI về việc tuyển mộ người trên khắp thế giới để gia nhập jihad ở Afghanistan. Ít nhất có 100.000 người vũ trang Hồi giáo tụ tập về Pakistan từ 1982 đến 1992 (khoảng 60.000 vào học những trường giáo điều ở Pakistan mà không cần thiết tham gia đánh nhau)
John Cooley, một nhà báo từng làm việc cho hệ thống truyền hình ABC của Mỹ và tác giả của cuốn sách Unholy Wars: Afghanistan, America and International Terrorism, đã từng cho biết người Hồi giáo được tuyển mộ ở Mỹ cho mujaheddin được gửi tới Trại Peary, trại huấn luyện gián điệp của CIA ở Virginia, nơi mà thanh niên Afghanistan, Arab từ Egypt và Jordan, và ngay cả vài người Mỹ gốc Phi "người Hồi giáo da đen" được dạy "kỹ năng phá hoại".
Tờ báo Anh Independent số 1/11/1998 cho biết một trong những bị can trong vụ đánh bom tòa đại sứ Mỹ ở Kenya và Tanzania, Ali Mohammed, đã huấn luyện "đặc vụ của bin Laden" vào năm 1989.
Những "đặc vụ" này được tuyển mộ tại Trung tâm Tị nạn al Kifah ở Brooklyn, New York, được huấn luyện bán quân sự ở vùng New York và gửi tới Afghanistan với sự giúp đỡ của Mỹ để gia nhập lực lượng của Hekmatyar. Mohammed là thành viên của lực lượng tinh nhuệ Green Berets của lục quân Mỹ.
Chương trình này, theo báo Independent, nằm trong một kế hoạch được Washington chấp thuận gọi là "Chiến dịch Cyclone"
Ở Pakistan, lính mới, tiền và trang bị được chia cho những nhóm mujaheddin bởi một tổ chức với cái tên Maktab al Khidamar (Văn phòng Phục vụ — MAK).
MAK là một cơ quan thuộc chi nhánh CIA ở Pakistan, và Ban Giám đốc Liên Cục Tình báo [Inter-Service Intelligence Directorate (ISI) của Pakistan]. ISI là nơi nhận đầu tiên khối lượng rất lớn viện trợ bí mật cho lực lượng chống đối Afghanistan. Bin Laden là một trong ba người điều hành MAK. Đến 1989, ông ta nhận lãnh toàn bộ quyền kiểm soát MAK.
Trong số những người được huấn luyện bởi Mohammed có El Sayyid Nosair, người đã bị bắt giam năm 1995 vì tội giết Rabbi (giáo sĩ Do thái giáo) cánh hữu Meir Kahane và tội cùng với người khác lên kế hoạch đánh bom những công trình biểu tượng ở New York, trong đó có Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993.
Báo Independent cũng cho rằng Shiekh Omar Abdel-Rahman, một lãnh đạo tôn giáo người Ai-Cập bị giam vì vụ đánh bom Trung tâm Thương mại TG 1993, cũng là một phần tử cũ của Chiến dịch Cyclone. Ông này vào Mỹ năm 1990 với sự chấp thuận của CIA. Một báo cáo mật của CIA kết luận rằng cơ quan này "có một phần lỗi" trong vụ nổ WTC năm 1993, cũng theo tờ Independent.
Bin Laden
Osama bin Laden, một trong 20 con trai của một trùm tư bản ngành xây dựng Saudi Arabia, đến Afghanistan để tham gia jihad (thánh chiến) năm 1980. Một người theo tôn giáo cực đoan nghiêm khắc và nhà tư bản lớn, bin Laden chuyên về việc tuyển mộ, tài trợ và huấn luyện khoảng 35.000 lính đánh thuê người nước ngoài vào Afghanistan tham gia mujaheddin.
Gia đình bin Laden là một cột trụ chính của tầng lớp thống trị ở Saudi Arabia, có quan hệ gần gũi về cá nhân, tài chính, và chính trị với hoàng gia thân Mỹ ở nước đó.
Cha bin Laden là bộ trưởng trông coi công trình công cộng được chỉ định và quí mến bởi Vua Faisal. Bộ trưởng khi mới nhận việc đã giao cho chính công ty xây dựng của ông ta những hợp đồng béo bở trùng tu các đền thờ Hồi giáo quan trọng nhất ở Mecca và Medina. Trong tiến trình đó, công ty của gia đình bin Laden vào năm 1966 đã trở thành công ty xây dựng riêng (không thuộc tập đoàn, không phát hành chứng khoán) lớn nhất thế giới.
Cha của Osama bin Laden mất năm 1968. Cho đến năm 1994, ông ta vẫn có tiền chia từ lợi nhuận của đế quốc thương mại đang đi xuống đó.
(Tài sản thường được ước tính của bin Laden khoảng 200-300 triệu USD bởi Bộ Ngoại Giao Mỹ là dùng trị giá tài sản của gia đình bin Laden --- khoảng 5 tỉ USD --- chia cho số con trai của bin Laden cha. Một sự thật ít khi được nhắc đến là vào 1994, gia đình bin Laden từ Osama và giành kiểm soát phần của ông ta.)
Hoạt động quân sự và thương mại của Osama ở Afghanistan được sự phò trợ của đại gia đình bin Laden và chính quyền phản động Saudi Arabia. Quan hệ làm việc gần gũi với MAK cũng có nghĩa là CIA biết rõ những hoạt động của ông ta.
Milt Bearden, trưởng trạm của CIA ở Pakistan từ 1986 đến 1989, thừa nhận với tờ New Yorker số ra ngày 24/1/2000 rằng trong khi ông ta chưa bao giờ gặp tận mặt bin Laden, "Tôi có biết sự hiện hữu của ông ta không? Có, tôi biết ... [Người như] bin Laden lúc đó đem vào khoảng 20-25 triệu USD một tháng từ những người Saudi và Arab vùng Vịnh để tài trợ cuộc chiến. Và đó là số tiền rất lớn. Khoảng 200-300 triệu thêm cho một năm. Và đây là những việc bin Laden làm."
Năm 1986, bin Laden đem thiết bị xây dựng hạng nặng từ Saudi Arabia đến Afghanistan. Dùng kiến thức dồi dào của mình về kỹ thuật xây dựng (ông ta có bằng cấp về kỹ sư công chính), đã xây dựng những "trại huấn luyện", một số đào sâu vào sườn núi, và làm đường dẫn vào đó.
Những trại này, bây giờ được gọi là "những trường đại học khủng bố" bởi Washington, đã được xây dựng với sự hợp tác của ISI và CIA. Lực lượng kháng chiến Afghanistan, bao gồm cả hàng chục ngàn lính đánh thuê được tuyển mộ và trả lương bởi bin Laden, đã được CIA, Pakistan, Mỹ và Anh trang bị vũ khí và cung cấp huấn luyện viên quân sự.
Tom Carew, cựu quân nhân trong lực lượng đặc biệt SAS của Anh, người từng chiến đấu một cách bí mật cho mujaheddin nói với tờ báo Anh Observer, số ra ngày 13/8/2000 rằng, "Người Mỹ tỉ mỉ khi dạy người Afghanistan kỹ thuật khủng bố thành thị --- đánh bom bằng xe và v.v...--- để họ có thể đánh người Nga ở trong những phố thị chính ... Nhiều người trong số họ bây giờ đã dùng những kiến thức và chuyên môn đó để gây chiến tranh với bất cứ những gì họ ghét.
Al Qaeda (cái Căn cứ), tổ chức của bin Laden, được thành lập vào 1987-88 để điều hành các trại và những cộng việc làm ăn khác. Nó là một công ty cổ phần tư bản điều hành chặt chẽ --- mặc dù nó kết hợp những hoạt động của một lực lượng lính đánh thuê và những dịch vụ hỗ trợ có liên quan với những hoạt động thương mại "chính đáng".
Sau khi quân Xô Viết rút lui, bin Laden vẫn tiếp tục làm những công việc mà ông ta đã làm trong thời những năm 1980 --- tài trợ, nuôi dưỡng và huấn luyện lính đánh thuê. Cái khác biệt là khách hàng của ông ta không còn là ISI, đứng sau lưng là CIA, mà là chính quyền phản động Taliban.
Bin Laden chỉ trở thành một "tên khủng bố" trong mắt của Mỹ khi ông ta không đồng thuận với hoàng gia Saudi Arabia về việc họ cho phép hơn 540.000 lính Mỹ đóng quân trên đất Saudi theo sau cuộc xâm lược của Iraq vào Kuwait.
Sau khi Cuộc chiến vùng Vịnh đó kết thúc, hàng ngàn quân Mỹ đã không rời khỏi Saudi Arabia, sự tức giận của bin Laden trở thành việc chống đối ra mặt. Ông ta tuyên bố rằng Saudi Arabia và những chế độ khác --- như là Egypt --- trong vùng Trung Đông là bù nhìn của Mỹ, cũng giống như chính quyền PDPA của Afghanistan đã từng là bù nhìn của LBXV.
Ông ta kêu gọi lật đổ những chế độ chư hầu đó và tuyên bố trách nhiệm của toàn thể người Hồi giáo là đuổi Mỹ ra khỏi những quốc gia vùng Vịnh. Năm 1994, ông ta bị tước quốc tịch Saudi và buộc phải rời khỏi nước này. Tài sản của ông ta ở đó bị đóng băng.
Sau một thời gian ở Sudan, ông ta trở lại Afghanistan vào tháng 5/1996. Ông ta cho sữa chữa lại những trại mình đã giúp xây dựng trong thời chiến tranh với Nga và muốn đóng góp cơ sở, dịch vụ, và hàng ngàn lính đánh thuê cho lực lượng Taliban, nhóm lên nắm chính quyền vào tháng 9.
Hôm nay, quân đội riêng của bin Laden, gồm những người ngoài quốc tịch Afghanistan theo tôn giáo cực đoan, là một cột trụ chính của chế độ Taliban(vào thời điểm tác giả viết bài này).
Trước cuộc tấn công thảm khốc 11/9 vào tháp đôi của WTC, giới lãnh đạo Mỹ vẫn không tỏ ra hối hận gì về hậu quả của những giao dịch bẩn thỉu của họ với loại như bin Laden, Hekmatyar, và lực lượng Taliban. Từ sau cuộc tấn công tệ hại đó, họ lại tỏ ra hết sức là đạo đức giả.
Trong một báo cáo ngày 28/8/1998, được đăng tải trên đài MSNBC, Michael Moran trích lời Thượng nghị sĩ Orrin Hatch, một thành viên cao cấp của Ủy ban Tình báo Thượng viện, nơi đã chấp thuận những giao dịch với mujaheddin, nói rằng ông ta sẽ "quyết định giống như vậy một lần nữa", ngay cả khi biết rằng bin Laden sẽ trở thành như vậy.
"Nó đáng như vậy. Đó là những việc làm rất quan trọng, then chốt đã đóng một vai trò quan trọng trong sự sụp đổ của LBXV."
Ông Hatch hôm nay là một trong những tiếng nói hăng hái nhất đòi trả thù quân sự.
Một bộ mặt khác thường xuất hiện trên TV sau vụ tấn công là Vincent Cannistrano, được giới thiệu là một cựu chỉ huy CIA chuyên trách về "những hoạt động chống khủng bố".
Cannistrano dĩ nhiên là một chuyên gia về những nhân vật khủng bố như bin Laden, bởi vì ông ta đã từng chỉ đạo "công việc" của họ. Ông ta đã từng dẫn dắt lực lượng kháng chiến Nicaragua hậu thuẫn bởi CIA những năm đầu thập niên 1980. Vào 1984, ông ta trở thành người giám sát viện trợ bí mật của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa kỳ cho mujaheddin Afghanistan.
Lời cuối của Zbigniew Brzezinski: "Chuyện gì quan trọng hơn trong cách nhìn của thế giới về lịch sử? Taliban hay là sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết? Một vài bất ổn từ người Hồi giáo hay sự giải phóng Trung Âu và kết thúc Chiến tranh Lạnh?"
----------------------------------------------------------
Nguyên văn: http://www.greenleft.org.au/2001/465/25199

Friday, September 7, 2007

Chống khủng bố phải bắt đầu từ nhà mình!

Các bạn có bao giờ tự hỏi rằng tại sao những láng giềng cùng châu lục với Mỹ cũng thường hay biểu tình chống Mỹ? Tại sao thời VN đánh Mỹ có du kích Venezuela bắt sĩ quan Mỹ để đòi trao đổi mạng với anh Nguyễn Văn Trỗi? Bài sau đây sẽ một phần lý giải tại sao láng giềng Mỹ Latin có "tình cảm đặc biệt" đó đối với chính quyền Mỹ.
"School Of Americas", tạm dịch là "Trường của các nước Châu Mỹ", cái tên nghe thật là vô tội! Nhưng thực chất nó là gì? Mời bà con xem bài này để biết thêm về những hoạt động "ban bố dân chủ" của Hoa Kỳ trong vùng châu lục của họ. Kể từ sự kiện 11/9/2001 đến nay, chính quyền Mỹ luôn ra rả kêu gọi thế giới ủng hộ "Cuộc Chiến Chống Khủng Bố", và gây ra cuộc chiến ở Iraq làm chết hàng trăm ngàn người (theo họ) cũng là vì muốn chống vài tên khủng bố. Thêm vào đó, Mỹ tự cho mình cái quyền chỉ tay buộc tội những nước khác là "ủng hộ khủng bố". Nhưng chính ngay trên nước Mỹ từ lâu đã có một ngôi trường với cái tên hết sức ngây thơ là "School Of Americas" mà mục đích thực sự của nó là đào tạo ra những tên khủng bố.
Để giữ Trung và Nam Mỹ trong vòng kiểm soát, Mỹ phải dập tắt những phong trào độc lập, dân chủ ở vùng này. Để thực hiện được điều này, Mỹ đã lập một trường huấn luyện những quân nhân-sát thủ chuyên nghiệp và gởi về bản xứ để giết những người chống đối ở nước họ, bảo vệ những chế độ độc tài thân Mỹ.
Nói về khủng bố, Bin Laden chưa đáng làm học trò của những chính khách Mỹ ăn trắng mặc trơn và chuyên môn mở miệng là dạy đời thế giới về "tự do, dân chủ, nhân quyền"!
Chú ý: Khi thấy dấu (?!?) là dấu của tôi chứ 0 phải của tác giả. Đó là chỗ tôi nhịn cười không nổi!
-------------------------------------------------------------
Thế Chiến II là một "cuộc chiến tốt". Sau cuộc xung đột đó, phần lớn người Mỹ tin rằng những mục tiêu của Mỹ trên thế giới là cao thượng - Mỹ là người trừng phạt những kẻ hung hăng và một chiến sĩ cho tự do(?!?). Hình ảnh này đã trở thành mẫu mực cho nhiều thế hệ người Mỹ để đánh giá nước họ trong những việc xảy ra trên thế giới. Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cái ảo tưởng là nước Mỹ luôn ở bên "phía lẽ phải". Ngày nay, hình ảnh nước Mỹ là người bảo vệ của dân chủ và công lý càng bị xói mòn thêm bởi cái "School of Americas" (SOA), nơi huấn luyện sĩ quan quân sự và binh lính Mỹ Latin và Caribbean để phá vỡ dân chủ và giết chết hy vọng trong chính nước họ.
Thành lập bởi Hoa Kỳ vào 1946, SOA lúc đầu ở Panama, nhưng vào 1984, nó bị đá ra theo những điều khoản của Hiệp Ước Kênh Đào Panama và di chuyển tới căn cứ lục quân ở Fort Benning, Georgia, Mỹ. Tổng Thống Panama lúc đó là Jorge Illueca gọi nó là "căn cứ lớn nhất cho sự bất ổn ở Mỹ Latin", và một tờ báo lớn của Panama đã tặng cho nó cái tên "Trường của những Sát Thủ Chính Trị".
Hôm nay, huấn luyện viên và học viên của SOA được tuyển mộ từ thành phần xuất sắc nhất của lực lượng quân sự các nước Mỹ Latin. Trường huấn luyện 700-2000 lính một năm, và từ ngày bắt đầu vào 1946, hơn 60.000 quân nhân đã tốt nghiệp từ SOA.
Nếu SOA tập trung vào huấn luyện việc bảo vệ biên giới quốc gia chống lại ngoại xâm hay bảo vệ người dân khỏi sự xâm lược bởi kẻ thù bên ngoài, thì nó có thể đuợc cho là một cơ quan gương mẫu, đáng giá cho những đồng tiền thuế của người Mỹ và uy tín nước Mỹ. Nhưng, SOA có những mục đích rất khác biệt. Giáo trình của nó bao gồm những cua về chiến tranh tâm lý, chống chiến tranh du kích, kỹ thuật tra hỏi, và chiến thuật bộ binh và biệt kích. Được trình bày với những kỹ thuật tối tân và cập nhật nhất bởi những huấn luyện viên giỏi nhất của Lục Quân Mỹ, những cua này dạy sĩ quan và binh lính của các nước TG Thứ III cách loại bỏ sự thật, bịt miệng những lãnh đạo hội đoàn, nhà hoạt động tôn giáo, nhà báo, và gây chiến tranh với chính dân họ. Nó chuẩn bị họ cho việc đàn áp tiếng nói chống đối và buộc người biểu tình phải chịu thua. Nó huấn luyện họ kỹ thuật loại người nghèo đói, và bị mất mát ra khỏi xã hội. Nó dạy họ cách dập tắt tự do và khủng bố chính người dân của họ. Nó huấn luyện họ phá hủy hy vọng cho dân chủ.
Trường của Các Nước Châu Mỹ đã được tặng nhiều tên khác nhau - "Trường cho những Độc Tài", "Trường của những Sát Thủ Chính Trị", và "Nhà Trẻ của những Nhóm Hành Quyết". Và, những nước có hồ sơ nhân quyền tệ hại nhất gởi nhiều lính nhất tới trường này.
Quốc gia / Tốt nghiệp (từ 1946)
Argentina / 931
Bolivia / 4.049
Brazil / 355
Chile / 2.405
Colombia / 8679
Costa Rica / 2.376
Dominican Republic / 2.330
Ecuador / 2.356
El Salvador / 6.776
Guatemala / 1.676
Honduras / 3.691
Nicaragua / 4.693
Panama / 4.235
Paraguay / 1,084
Peru / 3.997
Uruguay / 931
Venezuela / 3,250
Khi họ trở về nước nhà, học viên tốt nghiệp của SOA có một cái nhìn khác biệt và kỳ cục về người nước họ. Họ xem tu sĩ, người làm việc xã hội, nhà báo, và trí thức cấp tiến, không phải là tài sản của xã hội, mà là những thành phần phá hoại nguy hiểm, đang làm việc chống lại cái hệ thống đang bảo đảm vị trí quyền lực của binh lính, sĩ quan, và những nhà bảo trợ của họ.
Học viên tốt nghiệp của SOA đã từng là những kẻ bạo ngược nặng tay đàn áp nhất ở Mỹ Latin, với những hành động dã man và bạo lực nhất. Ở El Salvador, vào 1989, một đội tuần tiễu Salvador hành quyết sáu tu sĩ Jesuit khi họ nằm úp mặt trên xuống đất ở Đại Học Trung Mỹ. Theo Báo Cáo Ủy Ban Sự Thật của Liên Hiệp Quốc về El Salvador năm 1993, 19 trên tổng số 26 nhân viên tham gia vụ hành quyết này đã được huấn luyện ở SOA.
Vào 1990, ở El Salvador, người có nhiều ủng hộ, Tổng Giám Mục Oscar Romero bị ám sát. Ba phần tư nhân viên Salvador bị nghi ngờ trong vụ giết người này đã được huấn luyện ở SOA. Roberto D'Aubuison, người lãnh đạo sau này của Đội Hành Quyết El Salvador, bị ám chỉ có tham gia kế hoạch ám sát TGM Romero. Ông ta cũng đã góp phần trong nhiều vụ giết người khác, bao gồm một vụ thảm sát ở làng El Mazote, nơi mà hơn 900 đàn ông, phụ nữ, và trẻ em đã bị giết. Ông này cũng tốt nghiệp ở SOA.
Thống kê của Ủy Ban Sự Thật của LHQ cho thấy qui mô vai trò của trường SOA ở El Salvador.
Vụ ám sát TGM Romero có 3 nhân viên bị cáo buộc - 2 người tốt nghiệp SOA
Giết một số sơ người Mỹ có 5 nhân viên bị cáo buộc - 3 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở El Junquillo có 3 nhân viên bị cáo buộc - 2 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở El Mazote có 12 nhân viên bị cáo buộc - 10 người tốt nghiệp SOA
Vụ giết nhà báo Hà Lan có 1 nhân viên bị cáo buộc - ông ta là một người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở Las Hojas có 6 nhân viên bị cáo buộc - 3 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở San Sebastian có 7 nhân viên bị cáo buộc - 6 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát tu sĩ Jesuit có 26 nhân viên bị cáo buộc - 19 người tốt nghiệp SOA
Ở những nước Mỹ Latin khác, học viên tốt nghiệp SOA cũng là những kẻ thù nổi bật của nhân quyền. Cựu độc tài Omar Torrijos của Panama, Guillermo Rodriguez của Ecuador, và Juan Velasco Alvarado của Peru, tất cả đều đã lật đổ những chính phủ được đắc cử theo hiến pháp nước họ. Leopoldo Galtieri, cựu lãnh đạo của nhóm hành chính quân đội của Argentina bị thua trong Chiến Tranh Falklands (cuộc chiến với Anh giành một quần đảo gần Argentina), là người chịu trách nhiệm cho hàng ngàn công dân bị "biến mất"- những người ủng hộ tự do và dân chủ ở Argentina, và đã cái giá cao nhất là mạng sống của họ. Ông ta là một học viên tốt nghiệp ở SOA.
Ở Honduras, Tướng Humberto Ragalado Hernandez, được huấn luyện ở SOA vào cùng thời gian ông ta được nghi ngờ dính dáng với những trùm ma túy Colombia, và những nhân viên cao cấp nhất trong Đội Hành Quyết Honduras cũng là những người được huấn luyện ở SOA.
Ở Peru, nhân viên cao cấp nhất bị kết án về vụ giết chín sinh viên đại học và một giáo sư vào tháng 2, 1994, là người tốt nghiệp ở SOA.
Ở Colombia, một tòa án nhân quyền năm 1992 kiện 246 nhân viên về tội ác chống lại nhân dân Colombia. 105 trong số đó đã được huấn luyện ở SOA.
Ở Panama, cựu độc tài Manuel Noriega, từng làm việc cho CIA, tốt nghiệp từ SOA. Ông ta đang ở tù Mỹ, tội buôn ma túy.
Ở Guatemala, một nước có 10 triệu dân, người bản xứ da đỏ Mayan với dân số 6 triệu đã chịu đựng sự đau thương lớn nhất ở Mỹ Latin. Trong hơn 30 năm nội chiến, hàng chục ngàn người đã bị giết hại, với tổng số dự đoán hơn 200.000 người. Phần lớn những tướng lãnh có dính dáng đến nhiều vụ đảo chính và hành động khủng bố, giết người trong giai đoạn này đã được huấn luyện ở SOA.
Vào thập niên 1970 và đầu 1980, ở Guatemala, hàng ngàn nhà hoạt động chính trị và đối kháng với đường lối của chính phủ đã bị ám sát. Tướng Manuel Antonio Callejas y Callejas, Chỉ Huy Tình Báo Quân Đội lúc đó, đã bị LHQ tố cáo là cá nhân chịu trách nhiệm cho đại đa số những vụ giết người này. Ông này tốt nghiệp ở SOA. Một trong những tên bạo chúa dữ dằn nhất trong lịch sử gần đây ở Guatemala là Jose Efrain Rios Montt. Là một viên tướng, nhà độc tài, và cựu tổng thống từ 1982-83, Rios Montt tự hào với triết lý chính trị của ông ta: "đậu cho những kẻ nghe lời; đầu đạn cho đám còn lại" ("beans for the obedient; bullets for the rest"). Ông ta cũng tốt nghiệp từ SOA.
Tác động của học viên tốt nghiệp SOA trên tự do của vùng Mỹ Latin thật khủng khiếp. Được trang bị với huấn luyện tinh vi, vũ khí hiện đại, kỹ thuật cập nhật về điều khiển và theo dõi, tốt nghiệp của SOA đã khủng bố người dân của chính nước họ qua một thế hệ.
Nhân danh người dân Mỹ và dùng tiền thuế của người Mỹ, Hoa Kỳ, nước dân chủ nhất(?!?), đã qua nhiều thập niên huấn luyện ra những lãnh đạo phản dân chủ nhất trên thế giới. Chính quyền lên án khủng bố trên thế giới, đã khuyến khích những tên khủng bố ngay trong nhà mình - ở SOA.
Nước ta, trong nhiều thế hệ, là ngọn đèn dẫn đường cho tự do và dân chủ trên thế giới (?!?), không nên góp phần đàn áp dân chủ và giết chết hy vọng ở nước khác (?!?). Người Mỹ lên án khủng bố quốc tế nên lên án cùng mạnh mẽ như vậy việc huấn luyện những tên khủng bố cho Thế Giới Thứ III bởi nước Mỹ. Đây là thời điểm mà chúng ta phải đòi hỏi đóng cửa School of the Americas.
------------------------------------------------------------
Nguyên văn:


School of the Americas:
School of Assassins, USA

The School of the Americas

http://www.thirdworldtraveler.com/Terrorism/SOA.html


World War II was the "good war". After that conflict, most Americans believed that US intentions in the world were noble -- the US was the punisher of aggression and a warrior for freedom. This image was for generations of Americans the measure by which they judged their country in world affairs. The war in Vietnam ended the illusion that America was always on the "right side". Today, America's image as a defender of democracy and justice has been further eroded by the School of the Americas (SOA), which trains Latin American and Caribbean military officers and soldiers to subvert democracy and kill hope in their own countries.

Founded by the United States in 1946, the SOA was initially located in Panama, but in 1984 it was kicked out under the terms of the Panama Canal Treaty and moved to the army base at Fort Benning, Georgia. Then-President of Panama Jorge Illueca called it "the biggest base for de-stabilization in Latin America," and a major Panamanian newspaper dubbed it " The School of Assassins."

Today, SOA instructors and students are recruited from the cream of the Latin American military establishment. The School trains 700-2,000 soldiers a year, and since its inception in 1946, more than 60,000 military personnel have graduated from the SOA.

If the SOA concentrated its training on protecting country borders from foreign aggression or safeguarding citizens from invasion by outside enemies, it would be considered an exemplary institution, worth the cost of American tax dollars and US prestige. But, the SOA has very different goals. Its curriculum includes courses in psychological warfare, counterinsurgency, interrogation techniques, and infantry and commando tactics. Presented with the most sophisticated and up-to-date techniques by the US Army's best instructors, these courses teach military officers and soldiers of Third World countries to subvert the truth, to muzzle union leaders, activist clergy, and journalists, and to make war on their own people. It prepares them to subdue the voices of dissent and to make protesters submit. It instructs them in techniques of marginalizing the poor, the hungry, and the dispossessed. It tells them how to stamp out freedom and terrorize their own citizens. It trains them to destroy the hope of democracy.

The School of the Americas (SOA) has been given other names -- "School for Dictators", "School of Assassins", and "Nursery of Death Squads". And, countries with the worst human rights records send the most soldiers to the School.

Countries / Graduates (since 1946)

Argentina / 931
Bolivia / 4,049
Brazil / 355
Chile / 2,405
Colombia / 8,679
Costa Rica / 2,376
Dominican Republic / 2,330
Ecuador / 2,356
El Salvador / 6,776
Guatemala / 1,676
Honduras / 3,691
Nicaragua / 4,693
Panama / 4,235
Paraguay / 1,084
Peru / 3,997
Uruguay / 931
Venezuela / 3,250

When they return to their home countries, graduates of the SOA hold a rather unique and peculiar view of their countrymen. They look upon priests, social workers, journalists, and liberal intellectuals, not as assets to their societies, but as dangerous subversives, working to undermine the system that keeps these soldiers, army officers, and their sponsors in power.

Graduates of the SOA have been among the most repressive tyrants in Latin America, and their actions have been some of the most cruel and violent. In El Salvador, in 1989, a Salvadoran army patrol executed six Jesuit priests as they lay face-down on the ground at Central America University. According to the United Nation's Truth Commission Report on El Salvador in 1993, 19 of the 27 officers who took part in the executions were trained at the SOA.

In 1990, in El Salvador, populist Archbishop Oscar Romero was assassinated. Three-quarters of the Salvadoran officers implicated in the killing were trained at the SOA. Roberto D'Aubuison, the late leader of El Salvador's Death Squad, was implicated in the plot to assassinate Archbishop Romero. He also participated in numerous murders, including a massacre in the village of El Mazote, where more than 900 men, women, and children were killed. He graduated from SOA as well.

The U.N. Truth Commission's statistics reveal the extent of the School's murderous role in El Salvador .


Romero assassination 3 officers cited --- 2 were SOA graduates
Murder of US nuns 5 officers cited --- 3 were SOA graduates
Union leader murders 3 officers cited --- 3 were SOA graduates
El Junquillo massacre 3 officers cited --- 2 were SOA graduates
El Mazote massacre 12 officers cited --- 10 were SOA graduates
Dutch journalist murders 1 officer cited --- he was an SOA graduate
Las Hojas massacre 6 officers cited --- 3 were SOA graduates
San Sebastian massacre 7 officers cited --- 6 were SOA graduates
Jesuit massacre 26 officers cited --- 19 were SOA graduates

In other Latin American countries, graduates of the SOA have been equally prominent enemies of human rights. Former dictators Omar Torrijos of Panama, Guillermo Rodriguez of Ecuador, and Juan Velasco Alvarado of Peru, all overthrew constitutionally elected governments in their countries. Leopoldo Galtieri, the former head of the Argentina junta defeated in the Falklands War, was responsible for thousands of "disappeared" citizens who supported freedom and democracy in Argentina, and paid the ultimate price with their lives. He was an SOA graduate.

In Honduras, General Humberto Ragalado Hernandez, was trained at the SOA at the same time that he was linked to Columbian drug cartels, and the highest ranking officers in the Honduran Death Squad were trained at SOA as well.

In Peru, the most senior officers convicted of the February 1994 murder of nine university students and a professor, were graduates of the SOA. In Columbia, a 1992 human rights tribunal cited 246 officers for crimes against the people of Columbia. 105 of the officers were trained at the SOA. In Panama, ex-dictator Manuel Noriega, formerly on the CIA payroll, graduated from the SOA. He is now in a US prison, convicted of trafficking in drugs.

In Guatemala, a country of 10 million, the indigenous Mayan population of 6 million have endured the greatest suffering in Latin America. During more than 30 years of civil war, tens-of-thousands have been slaughtered, with the total killed estimated to exceed 200,000. Most of the ranking generals involved in the numerous coups and acts of terror and murder during this period were trained at the SOA.

In the 1970s and early 1980s, in Guatemala, thousands of political activists and opponents of government policies were assassinated. General Manuel Antonio Callejas y Callejas, Chief of Army Intelligence at the time, was cited by the UN as the individual responsible for most of those murders. He graduated from the SOA. One of the most vicious tyrants in recent Guatemalan history is Jose Efrain Rios Montt. General, dictator, and a former president from 1982-83, Rios Montt was proud of his political philosophy of "beans for the obedient; bullets for the rest". He was also a graduate of the SOA.

The impact of SOA graduates on Latin American freedom has been devastating. Armed with sophisticated training, modern weapons, and up-to-date techniques of control and surveillance, graduates of the SOA have terrorized their own countrymen for a generation.

In the name of its citizens and using American taxpayer dollars, the United States, the most-democratic of countries, has for decades been training some of the most anti-democratic leaders in the world. Administrations that have decried terrorism abroad, have encouraged terrorists right here at home -- at the SOA.

Our country, for generations, a beacon of liberty and democracy to the world, should play no part in subverting democracy and killing hope in other countries. Americans who condemn world terror should condemn just as strongly America's training of Third World terrorists. It is time for all of us to demand that the School of the Americas be closed.


What you can do


Call, fax, or write the President, and your Senators and Representative. Ask them to end funding for the SOA and stop training terrorists and murderers in America.

Ask them to support House of Representatives Bill -- HR 2652 -- introduced by Representative Joseph Kennedy (D-MA). This bill would close the School of the Americas and establish in its place an Academy for Democracy and Civil-Military Relations, to identify the proper role of the military in a democratic society and bring about civilian control over military matters in Latin America.

Father Roy Bourgeois founded SOA Watch to inform the American public about " the School of Assassins" and to close it down. But, he cannot do it alone. He needs the support of all Americans who abhor the training of terrorists and murderers in this country. Support SOA Watch and Father Roy Bourgeois at:

SOA Watch
PO Box 3330
Columbus, GA 31903
706-682-5369


Foreign Policy and Pentagon

Terrorism watch

School of the Americas Watch