Monday, April 20, 2015

NGOẸO CŨNG BIẾT LO THAM NHŨNG?


Xem thử thời ngụy 'dân' kiếm tiền như nào mà SG giàu dữ vậy?

Nạn mua quan bán chức dưới thời ngụy rất thịnh hành và công khai.  Súng đạn thì đem bán cho cả VC để kiếm tiền cho nên cả đám 'đồng minh' chẳng ai còn đủ can đảm đổ viện trợ vào cái lỗ đen đó sau khi quân Mỹ đã cuốn gói về nước năm 1973.  Chuyện về tham nhũng dưới thời ngụy có thể tìm xem rõ ràng hơn trong cuốn 'A Bright Shining Lie' của Neil Sheehan.  Ở đây tôi chỉ đưa ra một vài ví dụ:

Tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn về An ninh Quốc gia và Tình báo của Thiệu được biết đến với việc bảo kê cho bọn buôn lậu ma túy để chia chác cùng Thiệu.  Quang còn dính dáng đến chuyện đầu cơ giá gạo và bán chức trong quân đội.  Một câu chuyện nổi tiếng về việc này là vợ của Đại tá Nguyễn Văn Minh trong lúc say xỉn tại lễ nhậm chức chỉ huy Sư đoàn bộ binh 21 của ông này, đã tuyên bố chức vụ này tốt nhất là phải đáng tiền vì Minh đã trả Quang 2 triệu đồng VN để mua nó.

Thủ tướng, Tướng Trần Thiện Khiêm, có thói quen bổ nhiệm bà con vào những vị trí quan trọng.  Khi giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, ông này đã bổ nhiệm em mình làTrần Thiện Khôi , một người nghiện thuốc phiện, làm giám đốc Lực lượng Trấn áp Buôn lậu của hải quan, một chức vụ được lập ra nhằm mục đích chống buôn lậu thuốc phiện theo đường hàng hóa buôn bán! Cho nên nhiệm vụ thực sự của Khôi là bảo vệ đường dây buôn lậu thuốc phiện của gia đình! Một trong vô số những nhân viên hải quan trông coi một nhà kho ở Sài gòn đã khai ông trả cho Khôi 22 ngàn USD mỗi năm để bao che những vụ buôn lậu ma túy...

http://www.atomagazine.com/extras/cs01_bonus.pdf

Hồi đó còn nước thì tham nhũng đến nỗi sập nhà, đồng minh chạy làng luôn.  Bây giờ 'mất nước' 40 năm rồi con cháu ngoẹo là Việt Tân lại lo 'tham nhũng làm nghèo đất nước'! :v

Ảnh: Biểu tình chống ngụy đến sống ở Úc.  Người biểu tình cầm cờ MTDTGPMN. Chữ trên biểu ngữ: 'Những thằng lừa đảo không được xin tị nạn ở đây'.

Dịch chú thích ảnh gốc: 'Cuối chiến tranh VN thành viên của chính quyền Nam VN, từ lâu đã được biết là một đám tham nhũng thối nát, ích kỷ và bất lực, bỏ chạy ồ ạt và tim cách đến các nước phương tây.  Một thời gian ngắn sau đó, những người biểu tình này đã tập trung ở Quảng trường tp Melbourne bày tỏ thái độ của họ đối với những người từng phục vụ trong chính quyền Nam VN muốn xin tị nạn ơ Úc.'

At the end of the Vietnam War former members of the South Vietnamese regime, long seen as corrupt, self-serving and ultimately ineffectual, fled the country en masse and sought residence in the west. Shortly afterwards, these protesters in Melbourne’s City Square made plain their feelings about those who had served the South Vietnamese Government seeking asylum in Australia. [Melbourne University Archives UMA/I/122]

http://vietnam-war.commemoration.gov.au/aftermath/#

Sunday, April 19, 2015

Ho Chi Minh Was Noted for Success in Blending Nationalism and Communism


By ALDEN WHITMAN
Among 20th-century statesmen, Ho Chi Minh was remarkable both for the tenacity and patience with which he pursued his goal of Vietnamese independence and for his success in blending Communism with nationalism.
From his youth Ho espoused freedom for the French colony of Vietnam. He persevered through years when his chances of attaining his objective were so minuscule as to seem ridiculous. Ultimately, he organized the defeat of the French in 1954 in the historic battle of Dienbienphu. This battle, a triumph of guerrilla strategy, came nine years after he was named President of the Democratic Republic of Vietnam.
After the supposed temporary division of Vietnam at the 17th parallel by the Geneva Agreement of 1954 and after that division became hardened by United States support of Ngo Dinh Diem in the South, Ho led his countrymen in the North against the onslaughts of American military might. In the war, Ho's capital of Hanoi, among other cities, was repeatedly bombed by American planes.
At the same time Ho was an inspiration for the National Liberation Front, or Vietcong, which operated in South Vietnam in the long, bloody and costly conflict against the Saigon regime and its American allies.
In the war, in which the United States became increasingly involved, especially after 1964, Ho maintained an exquisite balance in his relations with the Soviet Union and the People's Republic of China. These Communist countries, at ideological sword's points, were Ho's principal suppliers of foodstuffs and war goods. It was a measure of his diplomacy that he kept on friendly terms with each.
Small and Frail
To the 19 million people north of the 17th parallel and to other millions below it, the small, frail, ivorylike figure of Ho, with its long ascetic face, straggly goatee, sunken cheeks and luminous eyes, was that of a patriarch, the George Washington of his nation. Although his name was not attached to public squares, buildings, factories, airports or monuments, his magnetism was undoubted, as was the affection that the average citizen had for him.
He was universally called "Uncle Ho," a sobriquet also used in the North Vietnamese press. Before the exigencies of war confined him to official duties, Ho regularly visited villages and towns. Simply clad, he was especially fond of dropping into schools and chatting with the children. Westerners who knew him were convinced that, whatever his guile in larger political matters, there was no pose in his expressions of feeling for the common people.
Indeed, Ho's personal popularity was such that it was generally conceded, even by many of his political foes, that Vietnam would have been unified under his leadership had the countrywide elections pledged at Geneva taken place. As it was, major segments of South Vietnam were effectively controlled by the National Liberation Front despite the presence of hundreds of thousands of American troops.
Intelligent, resourceful and dedicated, though ruthless, Ho created a favorable impression on many of those who dealt with him. One such was Harry Ashmore of the Center for the Study of Democratic Institutions and former editor of The Arkansas Gazette.
Mr. Ashmore and the late William C. Baggs, editor of The Miami News, were among the last Americans to talk with Ho at length when they visited Hanoi in early 1967.
"Ho was a courtly, urbane, highly sophisticated man with a gentle manner and without personal venom," Mr. Ashmore recalled in a recent interview. At the meeting Ho was dressed in his characteristic high-necked white pajama type of garment, called a cu-nao, and he wore open-toed rubber sandals. He chain-smoked cigarettes, American-made Salems.
Adept in English
Their hour-long conversation started out in Vietnamese with an interpreter, Mr. Ashmore said, but soon shifted to English. Ho astonished Mr. Ashmore by his adeptness in English, which was one of several languages--the principal others were Chinese, French, German and Russian--in which he was fluent.
At one point Ho reminded Mr. Ashmore and Mr. Baggs that he had once been in the United States. "I think I know the American people," Ho said, "and I don't understand how they can support their involvement in this war. Is the Statue of Liberty standing on her head?"
This was a rhetorical question that Ho also posed to other Americans in an effort to point up what to his mind was an inconsistency: a colonial people who had gained independence in a revolution were fighting to suppress the independence of another colonial people.
Ho's knowledge of American history was keen, and he put it to advantage in the summer of 1945 when he was writing the Declaration of Independence of the Democratic Republican of Vietnam. He remembered the contents of the American Declaration of Independence, but not its precise wording. From an American military mission then working with him he tried in vain to obtain a copy of the document, and when none could supply it Ho paraphrased it out of his recollections.
Thus his Declaration begins, "All men are created equal; they are endowed by their Creator with certain inalienable Rights; among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness." After explaining that this meant that "all the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free," Ho went on to enumerate, in the manner of the American Declaration, the grievances of his people and to proclaim their independence.
'Likable and Friendly'
Apart from Americans, Ho struck a spark with many others who came in contact with him over the years. "Extraordinarily likable and friendly" was the description of Jawaharlal Nehru, the Indian leader. Paul Mus, the French Orientalist who conducted delicate talks with Ho in 1946 and 1947, found him an "intransigent and incorruptible revolutionary, a la Saint Just."
A French naval commander who observed the slender Vietnamese for the three weeks he was a ship's passenger concluded that Ho was an "intelligent and charming man who is also a passionate idealist entirely devoted to the cause he has espoused" and a person with "naive faith in the politico-social slogans of our times and, generally, in everything that is printed."
Ho was an enormously pragmatic Communist, a doer rather than a theoretician. His speeches and articles were brought together in a four-volume "Selected Works of Ho Chi Minh" issued in Hanoi between 1960 and 1962. The late Bernard B. Fall, an American authority on Vietnam, published a collected of these in English in 1967 under the title "Ho Chi Minh on Revolution." They are simply and clearly worded documents, most of them agitational or polemical in nature and hardly likely to add to the body of Marxist doctrine.
Like Mao Tse-tung, a fellow Communist leader, Ho composed poetry, some of it considered quite affecting. One of his poems, written when he was a prisoner of the Chinese Nationalists in 1942-43, is called "Autumn Night" and reads in translation by Aileen Palmer:
In front of the gate, the guard
stands with his rifle.
Above, untidy clouds are
carrying away the moon.
The bedbugs are swarming
around like army tanks on
maneuvers,
While the mosquitoes form
squadrons, attacking like
fighter planes.
My heart travels a thousand li
toward my native land.
My dream intertwines with
sadness like a skein of a
thousand threads.
Innocent, I have now endured a
whole year in prison.
Using my tears for ink, I turn
my thoughts into verses.
Ho's rise to power and world eminence was not a fully documented story. On the contrary, its details at some crucial points are imprecise. This led at one time to the suspicion that there were two Hos, a notion that was discounted by the French Surete when it compared photographs of the early and the late Ho.
One explanation for the confusion is that Ho used about a dozen aliases, of which Ho Chi Minh (which can be translated as Ho, the Shedder of Light) was but one. Another was Ho's own reluctance to disclose biographical information. "You know, I am an old man, and an old man likes to hold on to his little mysteries," he told Mr. Fall. With a twinkle, he continued, "Wait until I'm dead. Then you can write about me all you want."
Nonetheless, Mr. Fall reported, before he left Hanoi, he received a brief, unsigned summary of Ho's life "obviously delivered on the old man's instructions."
Despite Ho's apparent self-effacement, he did have a touch of personal vanity. Mr. Fall recalled having shown the Vietnamese leader a sketch of him by Mrs. Fall. "Yes, that is very good. That looks very much like me," Ho exclaimed. He took a bouquet of flowers from a nearby table and, handing it to Mr. Fall, said:
"Tell her for me that the drawing is very good and give her the bouquet and kiss her on both cheeks for me."
Although there is some uncertainty over Ho's birth date, the most reliable evidence indicates he was born May 19, 1890, in Kimlien, a village in Nghe-An Province in central Vietnam. Many sources give his true name as Nguyen Ai Quoc, or Nguyen the Patriot. However, Wilfred Burchett, an Australian-born correspondent who knew Ho well, believes (and it is now generally accepted) that Ho's birth name was Nguyen Tat Thanh.
He was said to be the youngest of three children. His father was only slightly better off than the rice peasants of the area, but he was apparently a man of some determination, for by rote learning he passed examinations that gave him a job in the imperial administration just when the French rule was beginning.
An ardent nationalist, Ho's father refused to learn French, the language of the conquerors of his country, and joined anti-French secret societies. Young Ho got his first underground experience as his father's messenger in the anti-French network. Shortly, the father lost his Government job and became a healer, dispensing traditional Oriental potions.
Ho's mother was believed to have been of peasant origin, but he never spoke of her.
Attended Lycee
Ho received his basic education from his father and from the village school, going on to a few years of high school at the Lycee Quoc-Hoc in the old imperial capital of Hue. This institution, founded by the father of Ngo Dinh Diem, was designed to perpetuate Vietnamese national traditions. It had a distinguished roster of graduates that included Vo Nguyen Giap, the brilliant guerrilla general, and Pham Van Dong, the current Premier of North Vietnam.
Ho left the school in 1910 without a diploma and taught briefly at a private institution in a South Annam fishing town. It was while he was there, according to now accepting sources, that he decided to go to Europe. As a step toward that goal, he went to a trade school in Saigon in the summer of 1911 where he learned the duties of a kitchen boy and pastry cook's helper, skills in demand by Europeans of that day.
His training gave Ho a gourmet's palate, which he liked to indulge, and an ability to whip up a tasty dish, which he delighted to do when he could.
For the immediate moment, though, his training enabled him to sign aboard the Latouche-Treville as a kitchen boy, a job so menial that he worked under the alias Ba. In his travels, he visited Marseilles and ports in Africa and North America. Explaining the crucial significance of these voyages for Ho's education as a revolutionary, Mr. Fall wrote in "The Two Vietnams":
"His contacts with the white colonizers on their home grounds shattered any of his illusions as to their 'superiority,' and his association with sailors from Brittany, Cornwall and the Frisian Islands--as illiterate and superstitious as the most backward Vietnamese rice farmer--did the rest.
"Ho still likes to tell the story of the arrival of his ship at an African port where, he claims, natives were compelled to jump into the shark-infested waters to secure the moorings of the vessel and were killed by the sharks under the indifferent eyes of passengers and crew.
But his contacts with Europe also brought him the revelation of his own personal worth and dignity; when he went ashore in Europe in a Western suit, whites, for the first time in his life, addressed him as 'monsieur,' instead of using the deprecating 'tu,' reserved in France for children but used in Indochina by Frenchmen when addressing natives, no matter how educated."
In his years at sea, Ho read widely--Shakespeare, Tolstoy, Marx, Zola. He was even then, according to later accounts, an ascetic and something of a puritan, who was offended when prostitutes clambered aboard his ship in Marseilles. "Why don't the French civilize their own people before they pretend to civilize us?" he is said to have remarked.
(Ho, incidentally, is believed to have been a bachelor, although the record on this point is far from clear.)
With the advent of World War I, Ho went to live in London, where he worked as a snow shoveler and as a cook's helper under Escoffier, the master chef, at the Carlton Hotel. Escoffier, it is said, promoted Ho to a job in the pastry kitchen and wanted to teach him the art of cuisine. However that may be, the 24-year-old Vietnamese was more interested in politics. He joined the Overseas Workers Association, composed mostly of Asians, and agitated, among other things, for Irish independence.
Sometime during the war, Ho gave up the Carlton's kitchen for the sea and journeyed to the United States. He is believed to have lived in Harlem for a while. Ho himself often referred to his American visit, although he was hazy about the details. According to his close associate, Pham Van Dong, what impressed Ho in the United States were "the barbarities and ugliness of American capitalism, the Ku Klux Klan mobs, the lynching of Negroes."
Out of Ho's American experiences came a pamphlet, issued in Moscow in 1924, called "La Race Noire" ("The Black Race"), which assailed racial practices in America and Europe.
About 1918 Ho returned to France and lived in a tiny flat in the Montmartre section of Paris, eking out a living by retouching photos under the name of Nguyen Ai Quoc.
At the Versailles Peace Conference of 1919 Ho emerged as a self-appointed spokesman for his native land. Seeing in Woodrow Wilson's proposal for self-determination of the peoples the possibility of Vietnam's independence, Ho, dressed in a hired black suit and bowler hat, traveled to the Palace of Versailles to present his case. He was, of course, not received, although he offered a program for Vietnam. Its proposals did not include independence, but basic freedoms and equality between the French rulers and the native population.
Whatever hopes Ho may have held for French liberation of Vietnam were destroyed in his mind by the failure of the Versailles Conference to settle colonial issues. His faith was now transferred to Socialist action. Indeed, his first recorded speech was at a congress of the French Socialist party in 1920, and it was a plea not for world revolution but "against the imperialists who have committed abhorrent crimes on my native land." He bid the party "act practically to support the oppressed natives."
Immediately afterward Ho became, fatefully, a founding member of the French Communist party because he considered that the Socialists were equivocating on the colonial issue whereas the Communists were willing to promote national liberation.
"I don't understand a thing about strategy, tactics and all the other big words you use," he told the delegates, "but I understand well one single thing: The Third International concerns itself a great deal with the colonial question. Its delegates promise to help the oppressed colonial peoples to regain their liberty and independence. The adherents of the Second International have not said a word about the fate of the colonial areas."
Edited Weekly Paper
With his decision to join the Communists, Ho's career took a marked turn. For one thing, he became the French party's resident expert on colonial affairs and edited Le Paria (The Outcast), the weekly paper of the Intercolonial Union, which he was instrumental in founding in 1921. This group was a conglomeration of restless Algerian, Senegalese, West Indian and Asian exiles in Paris who were united by a fervid nationalism and, to a lesser extent, by a common commitment to Communism.
For another thing, the fragile-looking Ho became an orator of sorts, traveling about France to speak to throngs of Vietnamese soldiers and war workers who were awaiting repatriation.
In addition, Ho gravitated to Moscow, then the nerve center of world Communism. He went there first in 1922 for the Fourth Comintern Congress, where he met Lenin and became a member of the Comintern's Southeast Asia Bureau. By all accounts, Ho was vocal and energetic, meeting all the reigning Communists and helping to organize the Krestintern, or Peasant International, for revolutionary work among colonial peoples.
After a brief sojourn in France, Ho was back in Moscow, his base for many years thereafter. He attended the University of the Toilers of the East, receiving formal training in Marxism and the techniques of agitation and propaganda.
Following his studies in Moscow, Ho was dispatched to Canton, China, in 1925 as an interpreter for Michael Borodin, one of the leaders of the Soviet mission to help Chiang Kai-shek, then in Communist favor as an heir of Sun Yat-sen. Once in Canton, Ho set about to spread the spirit of revolution in the Far East. He organized Vietnamese refugees into the Vietnam Revolutionary Youth Association and set up the League of Oppressed Peoples of Asia, which soon became the South Seas Communist party, the forerunner of various national Communist groups, including Ho's own Indochinese Communist party of 1930.
For two years, until July, 1927, when Chiang turned on his Communist allies, Ho sent apt Vietnamese to Chiang's military school at Whampoa while conducting a crash training course in political agitation for his compatriots.
Fled to Moscow
After the Chiang-Communist break, Ho fled to Moscow by way of the Gobi. His life immediately thereafter is not clear, but it is believed that he lived in Berlin for a time and traveled in Belgium, Switzerland and Italy, using a variety of aliases and passports.
After 1928 Ho turned up in eastern Thailand, disguised as a shaven-headed Buddhist monk. He traveled among Vietnamese exiles and organized political groups and published newspapers that were smuggled over the border into Vietnam.
In 1930, on advice from the Comintern, Ho was instrumental in settling the vexatious disputes that had arisen among Communists in Indochina and in organizing the Indochinese Communist party, which later became the Vietnamese Communist party and, still later, the Vietnamese Workers party.
In that same year a peasant rebellion erupted in Vietnam, which the Communists backed. On its suppression by the French, Ho was sentenced to death in absentia. At the time he was in a British jail in Hong Kong, having been arrested there in 1931 for subversive activities.
The French sought his extradition, but Ho argued that he was a political refugee and not subject to extradition. The case, which was handled in London by Sir Stafford Cripps in a plea to the Privy Council, was decided for Ho. He was released, and fled Hong Kong in disguise (this time as a Chinese merchant) and made his way back to Moscow.
There he attended Communist schools--the Institute for National and Colonial Questions and the celebrated Lenin School. He was, however, back in China in 1938, now as a communications operator with Mao Tse-tung's renowned Eighth Route Army. Subsequently, he found his way south and entered Vietnam in 1940 for the first time in 30 years.
A Master Stroke
The timing was a master stroke, for the Japanese, virtually unopposed, had taken effective control of the Indochinese Peninsula and the French administrators, most of them Vichy adherents, agreed to cooperate with the Japanese. With great daring and imagination, Ho took advantage of World War II to piece together a coalition of Vietnamese nationalists and Communists into what was called the Vietminh, or Independence Front.
The Vietminh created a 10,000-man guerilla force, "Men in Black," that battled the Japanese in the jungles with notable success.
Ho's actions projected him onto the world scene as the leading Vietnamese nationalist and as an ally of the United States against the Japanese. "I was a Communist," he said then, "but I am no longer one. I am a member of the Vietnamese family, nothing else."
In 1942 Ho was sent to Kunming, reportedly at the request of his American military aides. He was arrested there by Chiang Kai-shek's men and jailed until September, 1943, when he was released, it has been said, by American request.
On his release, according to Mr. Fall, Ho cooperated with a Chinese Nationalist general in forming a wide Vietnamese freedom group. One result of this was that in 1944 Ho accepted a portfolio in the Provisional Republican Government of Vietnam. That Government was largely a paper affair, but it permitted Ho to court vigorously the American Office of Strategic Services. Thus when Ho's Vietminh took over Hanoi in 1945, senior American military officials were in his entourage. It was in this period that he took the name of Ho Chi Minh.
Independence Proclaimed
With the end of World War II, Ho proclaimed the independence of Vietnam, but it took nine years for his declaration to become an effective fact. First, under the Big Three Agreement at Potsdam, the Chinese Nationalists occupied Hanoi and the northern sector of Vietnam. Second, the French (in British ships) arrived to reclaim Saigon and the southern segment of the country. And third, Ho's nationalist coalition was strained under pressure of these events.
Forming a new guerrilla force around the Vietminh, Ho and his colleagues, according to most accounts, dealt summarily with dissidents unwilling to fight in Ho's fashion for independence. Assassinations were frequently reported. Meantime, as the Chinese withdrew from the north and the French advanced from the south, Ho negotiated with the French to save his nationalist regime.
In a compromise that Ho worked out in Paris in 1946, he agreed to let the Democratic Republic of Vietnam become a part of the French Union as a free state within the Indochina federation. The French recognized Ho as chief of state and promised a plebiscite in the South on the question of a unified Vietnam under Ho.
By the start of 1947, the agreement had broken down, and Ho's men were fighting the French Army. The Vietminh guerrillas held the jungles and the villages, the French the cities. For seven years the war raged as Ho's forces gathered strength, squeezing the French more and more. For most of this time, Ho was diplomatically isolated, for he was not recognized by Communist China or the Soviet Union until his victory over the French was virtually assured.
In an effort to shore up their political forces, the French resurrected Bao Dai, the puppet of the Japanese who held title as Emperor. Corrupt and pleasure-loving, he soon moved with his mistresses to France, leaving a weak and splintered regime in Saigon.
This, of course, proved no support for the French Army, which was also sapped by General Giap's guerrilla tactics. Finally, on May 8, 1954, the French forces were decisively defeated at Dienbienphu. The Indochina war ended officially in July at a cost to the French of 172,000 casualties and to the Vietminh of perhaps three times that many.
The cease-fire accord was signed in Geneva July 21, 1954, and it represented far less than Ho's hopes. But by that time the United States was involved in Vietnam on the French side through $800-million a year in economic aid. Fear of Communist expansion in Asia dominated Washington, with Vice President Richard M. Nixon saying, "If, to avoid further Communist expansion in Asia, we must take the risk of putting our boys in, I think the Executive Branch has to do it."
The Geneva Accord, however, divided Vietnam at the 17th parallel, creating a North and a South Vietnam. It removed the French administration from the peninsula and provided for all-Vietnam elections in 1956 as a means of unifying the country.
Although a party to the Geneva Accord, the United States declined to sign it. South Vietnam, also a nonsignatory, refused to hold the elections. Meantime, the United States built up its military mission in Saigon and its support of the regime of President Ngo Dinh Diem as a counter to continued guerilla activity of the National Liberation Front, which became pronounced after 1956.
The front, technically independent of Ho Chi Minh in the North, increased its sway into the nineteen-sixties. It supplied itself from captured American arms and from material that came through from the North. Beginning in 1964, thousands of American troops were poured into South Vietnam to battle the Vietcong and then to bomb North Vietnam.
The halt of American bombing in 1968 finally led to the peace negotiations in Paris, but in the meantime the fighting in South Vietnam continued.
Confident of Victory
Throughout, Ho was confident of victory. In 1962, when the war was still a localized conflict between the South Vietnamese forces and 11,000 American advisers on the one hand and a smaller guerrilla force on the other, he told a French visitor:
"It took us eight years of bitter fighting to defeat you French, and you knew the country and had some old friendships here. Now the South Vietnamese regime is well-armed and helped by the Americans.
"The Americans are much stronger than the French, though they know us less well. So it perhaps may take 10 years to do it, but our heroic compatriots in the South will defeat them in the end."
Ho was still confident in early 1967, when he talked with Mr. Ashmore and Mr. Baggs. "We have been fighting for our independence for more than 25 years," he told them, "and of course we cherish peace, but we will never surrender our independence to purchase a peace with the United States or any party."
At the close of his conversation, he clenched his right fist and said emotionally, "You must know of our resolution. Not even your nuclear weapons would force us to surrender after so long and violent a struggle for the independence of our country."
Of his own death he appeared unemotional. He had been urged to give up cigarettes, but he persisted in smoking. "When you are as old as I am," he remarked, "you do not worry about the harm of cigarettes."

http://www.nytimes.com/learning/general/onthisday/bday/0519.html

Saturday, April 18, 2015

TỘI ÁC TRƯỚC VÀ SAU POL POT Ở CAMPUCHIA


Chúng ta thường nghe rất nhiều về tội ác dưới thời Pol Pot nhưng hầu như không nghe tí gì về tội ác nhắm vào người dân Campuchia trước và sau thời Pol Pot! Các bạn có bao giờ đặt câu hỏi tại sao một kẻ điên loạn như Pol Pot lại có thể có người dân đi theo ủng hộ và chiến thắng trong cuộc nội chiến ở Campuchia?  Ai hay cái gì đã gây ra nội chiến đó? Và bạn có biết rằng thảm kịch của người dân Campuchia không chấm dứt ngay sau khi Pol Pot bị lật đổ mà còn tiếp diễn một thời gian dài?

Các bạn có thể mặc định rằng, sau khi Pol Pot bị lật đổ và thế giới 'văn minh' Anh Mỹ biết được chuyện gì xảy ra với dân Campuchia, họ sẽ nhanh chóng giúp đỡ hết mình về lương thực, thuốc men cho những nạn nhân còn sống sót, nhưng sự thật thì ngược lại! Dân Campuchia đã bị cấm vận luôn vì Việt Nam đã giải phóng họ! Tội ác vẫn tiếp tục sau Pol Pot vì Pol Pot vẫn được những nước 'văn minh' như Anh Mỹ cấu kết với tàu ủng hộ và bóp cổ dân Campuchia chỉ vì mục đích hèn hạ bỉ ổi là trả thù Việt Nam!

'Year Zero - Cái chết im lặng của Campuchia' là một trong những phim tài liệu nổi tiếng của John Pilger làm cùng với David Munro vào năm 1979 trong bối cảnh sau khi bộ đội Việt Nam đã giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng của Pol Pot.  Phim ghi lại những hình ảnh thực tế, phỏng vấn nhân chứng, nạn nhân ở những trại cứu trợ cho thấy hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn về thuốc men và lương thực và chỉ còn nằm chờ chết của người dân Campuchia lúc đó.

http://youtu.be/FTmEy2GEVL8

Tác giả John Pilger là một nhà báo Úc làm việc ở Anh, từng làm phóng viên trong thời chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam.  Ông từng hai lần được tặng giải thưởng Phóng viên của Năm của Liên hiệp Anh.  Những phim tài liệu của ông được thắng nhiều giải thưởng ở Anh và quốc tế.  Nhà báo này cũng nhận được nhiều bằng tiến sĩ danh dự.

Sau khi công chiếu Year Zero, 45 triệu USD đã được quyên góp mà không cần kêu gọi, đại đa số là những khoản đóng góp nhỏ, trong đó có có 4 triệu bảng Anh từ học sinh ở Anh.  Số tiền này là cứu trợ đáng kể đầu tiên cho Campuchia.  Pilger và Munro tiếp tục làm thêm bốn phim nữa về Campuchia.  Trong lần làm phim thứ hai, Cambodia Year One, họ đã bị cảnh cáo rằng Pilger đã bị đưa vào danh sách phải thủ tiêu của Khơ-me Đỏ.

Năm 2006, Pilger miêu tả phản ứng của người dân Anh với phim Year Zero:

'Cuốn phim tài liệu này đã gây ra những làn sóng lan xa và rộng...Year Zero không những phơi bày sự khủng khiếp của những năm tháng dưới thời Pol Pot, mà còn cho thấy việc ném bom Campuchia (của Mỹ trong chiến tranh với Việt Nam) đã tạo ra một chất xúc tác quan trọng cho sự nổi lên của Khơ-me Đỏ.  Nó cũng phơi bày việc phương tây, dẫn đầu bởi Mỹ và Anh, đã thiết lập cấm vận, giống như một cuộc bao vây thời trung cổ, trên một đất nước đã bị lâm vào cảnh tê liệt, khó khăn nhất thế giới.  Việc làm này là một phản ứng cho sự thật là Campuchia đã được giải phóng bởi Việt Nam - một đất nước nằm bên kia chiến tuyến của cuộc Chiến tranh Lạnh và vừa mới đánh bại Hoa kỳ.  Sự đau khổ của Campuchia nằm trong một cuộc báo thù có chủ đích.  Anh và Mỹ còn ủng hộ đòi hỏi của Pol Pot tiếp tục giữ ghế đại diện Campuchia ở LHQ, trong khi Margaret Thatcher ngăn chặn sữa cho trẻ em đến với những nạn nhân còn sống sót của chế độ ác mộng đó.  Chỉ một phần nhỏ của những chuyện này được nhắc đến.

Nếu Year Zero chỉ đơn thuần miêu tả con quái vật Pol Pot, nó đã bị quên lãng nhanh chóng.  Bằng cách phơi bày sự thông đồng, cấu kết của những chính quyền của chúng ta, nó đã cho thấy một sự thật rộng lớn hơn về việc thế giới được vận hành như thế nào...'

Trong một diễn văn năm 2007 mang tựa đề "Freedom Next Time: Resisting the Empire", Pilger miêu tả cuộc gặp gỡ của ông với Kênh Truyền hình Công của Mỹ (PBS).  Họ đã từ chối cho công chiếu phim tài liệu này và theo Pilger phim này đã không bao giờ được phát sóng trên đất Mỹ.

http://en.wikipedia.org/wiki/John_Pilger#Cambodia

Những điểm nhấn trong phim:

1:00: Trong lời giới thiệu của John Pilger, ông cho biết Nixon và Kissinger đã rải xuống Campuchia 100 ngàn tấn bom, là một khối lượng bom có sức nổ tương đương với năm trái bom nguyên tử đã dùng ở Hiroshima.  Hành động bất hợp pháp này được làm trong bí mật vì Campuchia là một nước trung lập dưới thời Norodom Sihanouk.

2:30: Pilger: 'Năm Pol Pot lên nắm quyền được gọi là Năm Số Không, bình minh của một thời đại không gia đình, không tình cảm, không biểu hiện của tình yêu hay sự đau buồn, không thuốc men, không bệnh viện, không trường học, không sách vở, không học hành, không lễ hội, không có âm nhạc, không thư từ, không tiền bạc, chỉ có làm việc và chết.'

Khoảng gần một phần ba dân số đã bị mất tích, có lẽ là đã bị giết.  Đối với John Pilger, đến Campuchia giống như vấp phải một chuyện mà ông không thể nào tưởng tượng ra được.  Những gì người xem phim sẽ thấy là một tường thuật bằng phim đầy đủ nhất của nhà báo phương tây từ đống đổ nát của một đất nước hiền hòa.  Có một số cảnh sẽ làm người xem khó chịu.

4:00: Pilger: 'Hình ảnh của Phnom Penh, một thời tấp nập, hiện đại, diện tích lớn hơn cả Amsterdam hay Brussels.  Trong bốn năm nó đã đứng trong im lặng, bị bỏ trống, giống như nó đã trải qua một cuộc chiến tranh hạt nhân làm cho chỉ còn lại những tòa nhà đứng đó, và đây là những hình ảnh mà tôi nhớ về nó, thủ đô của một đất nước được ưu đãi, của chợ búa khắp nơi.  Mảnh đất cho ra ba mùa thu hoạch một năm.'

5:00: Pilger: 'Sihanouk gìn giữ độc lập của Campuchia như một người làm trò tung hứng tệ hại trong một bãi chiến trường.  Vào năm 1970 ông ta bị lật đổ sau một thời gian Mỹ ném bom Campuchia.  Mùa xuân 1969, B-52 của Mỹ bắt đầu ném bom bí mật Campuchia trung lập.  Phi công bị bắt thề không được tiết lộ bí mật ngay cả với cấp trên của mình và sổ ghi chép công vụ của họ bị làm giả....

Những người Campuchia bị chết bởi bom B-52 được gọi là 'thiệt hại kèm theo', làng mạc bị thiêu hủy của họ được gọi là 'bắn nhầm'.

Lầu Năm Góc miêu tả người Campuchia là một đám người quá ngoan ngoãn thụ động, không thể mong họ hành động theo hướng tích cực cho chính sách của Mỹ.'

7:20: Pilger: 'Từ trong khói lửa, Pol Pot đã xuất hiện.  Cuộc cách mạng của hắn trước đó chưa bao giờ được hưởng một sự ủng hộ rộng rãi cho đến khi cái lý thuyết thằng điên của Nixon được thực hiện.  Chiến dịch ném bom Campuchia lật đổ sự cân bằng mong manh giữa phe bảo hoàng, cộng hòa và cộng sản.  Nó châm ngòi cho một cuộc chiến tranh làm chết và bị thương ít nhất một triệu người và làm tan nát chính cái cơ cấu xã hội của Campuchia.'

8:10: Pilger: 'Nếu quân đội nước ngoài đừng động đến nơi này, người dân ở đây sẽ tự quyết định một xã hội cho chính họ và tự lo liệu được cho mình.  Chắc chắn là còn chế độ phong kiến và tham nhũng nhưng không có chiến tranh, giết chóc, bom napalm... Bây giờ thì thành phố hấp dẫn này chỉ còn là một đống đổ nát.  Từng đám người mót của, phần lớn là trẻ em lục lọi trong những căn nhà, văn phòng, trường học, rạp hát, công viên, viện bảo tàng bỏ hoang...'

10:18: Phỏng vấn đại diện UNICEF.  Chính quyền Campuchia yêu cầu cứu trợ nạn đói cho 2.250.000 người... Theo đại diện này, ở một địa phương, trong một lán tập trung người bị đói đã có 54 trẻ em đang chờ chết.  Một em bị thương chỉ nằm đó không còn hơi sức nhìn lên và đã chết 10 ngày sau đó.  Ông luôn phải nhớ đến thảm cảnh đó.  Mình không giúp được gì vì chẳng có phương tiện gì trong tay.

12:11: Cảnh một em khác đang nằm rên nhẹ chờ chết.

12:25: Tháng 7, chính quyền Campuchia gửi yêu cầu xin một trăm ngàn tấn gạo và phương tiện y tế đến Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và UNICEF.  Tại đây, Kompong Spur, mỗi người được nhận bốn lon gạo cho một tháng.  Nhưng số thực phẩm này lại đến từ một nước nghèo khác, Việt Nam!

Cho đến giữa tháng 10, Hội CTĐQT vả UNICEF chỉ gởi đến 200 tấn cứu trợ, trên thực tế cũng như là không có gì.

14:34: Pilger: 'Pol Pot dường như tưởng tượng mình là kẻ thừa kế của đế quốc Angkor.  Trong tư tưởng của Khơ-me Đỏ, cộng sản được ít khi nhắc đến, thay vào đó là một tổ chức đòi hỏi hình thức nô lệ trong môt xã hội nông nghiệp không có thành phố hay máy móc.  Trung quốc ủng hộ Pol Pot sống trong hoang tưỏng là một Mao Trạch Đông thứ hai.  Họ xem Campuchia là một chén cơm trong một thuộc địa tương lai và nó đã xuất hiện như thế trong một vài bản đồ của Trung Quốc...'

26:00: Pilger: 'Có 558 người trong bệnh viện còn lại này của Phnom Penh và phần lớn là trẻ nhỏ và sơ sinh.  Chúng đang chờ chết vì chúng gần như không có cái gì để ăn.  Không nước sạch, vitamin, sữa, không thuốc men, kháng sinh, nay cả bông băng cũng thiếu.  Một tiếng khóc lớn của một trẻ trai có thể nghe từ ngoài đường, lên xuống trong đau đớn và dần dừng lại.'

Một nhân viên của HCTĐQT hỏi Pilger một cách tuyệt vọng rằng có thể bằng cách nào đó liên lạc bất cứ chính quyền nào để tiếp tế ngay một chuyến cứu trợ bằng máy bay C-130 thì sẽ cứu được hàng ngàn người.

Pilger hỏi lại tại sao HCTĐQT không tự mình gởi đến một chuyến cứu trợ như thế.  Nhân viên đó trả lời rằng chỉ huy của ông ta ở Geneva đang làm việc để tìm ra một khung kế hoạch cho việc cứu trợ.  Ông ta nói: 'Đây là Đông Nam Á, chuyện gì cũng dính dáng đến chính trị cả'.

Pilger: 'Có nghĩa là LHQ, bao gồm cả Anh vẫn còn công nhận chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ đã bị đánh bại và rất khó khăn để có được một sự giúp đỡ chính thức cho những người dân mà chính quyền mới của họ vẫn chưa được công nhận ngoại giao! Nói một cách khác, gần ba triệu người sẽ bị đói đến chết ở Campuchia và HCTĐQT, những cơ quan cứu trợ và các chính quyền sẽ gần như không làm gì cả...Dĩ nhiên là nếu bạn sống ở Geneva, hay New York, London, bạn sẽ không thể nghe tiếng thét của đứa bé mà tôi nhắc đến.'

29:00: Cảnh một bé trai 10 tuổi mà cha mẹ đã chết.  Trong ngày Pilger quay phim bé trai này đang cần thuốc kháng sinh và sữa, những thứ mà bệnh viện này không có.  Ngày hôm sau đoàn quay phim đến, bé đã chết.  Trong thời gian quay phim, chỉ có hai bác sĩ người phưong tây đến đây nhưng họ cũng chẳng có trong tay phương tiện gì để giúp.

29:59: Cảnh trẻ suy dinh dưỡng một tuổi

31:05: Cảnh trẻ suy dinh dưỡng 12 tuổi.  Đã có 550 bác sĩ ở Campuchia. 48 người còn sống.

32:27: Một trẻ chân co quắp và còn rất ít hơi sức nằm nhăn nhó.

33:04: Một bác sĩ nói đây là một tình trạng khẩn cấp thực sự cần phải có thực phẩm và thuốc men.  Cho ăn trước và sau đó chữa trị cho số dân bệnh tật này.

http://youtu.be/0rpZz5I_ylo

34:03: Bác sĩ: 'Việc phong tỏa cứu trợ này cũng giống như đối với Việt Nam.  Sữa bị ngăn chặn chuyển đến Việt Nam và Campuchia cũng bị như vậy.  Rõ ràng là như vậy.'

'Các nền kinh tế Châu Âu ngăn chặn giúp đỡ lương thực cho Việt Nam và tôi nghĩ chuyện giống như thế đã xảy ra đối với Campuchia.'

'Việt Nam đang gặp khó khăn về lương thực và thuốc men nhưng họ đang giúp Campuchia những thứ đó.'

34:55: Pilger: 'Đây là đoàn xe chở lương thực của Việt Nam.  Con đường sống bảo đảm duy nhất của Campuchia.  Mặc dù Việt Nam đang gặp khó khăn lương thực sau 30 năm chiến tranh, họ đã gửi hơn 25 ngàn tấn thực phẩm đến Campuchia.  Người VN đã làm được chuyện này bằng cách kêu gọi mỗi gia đình các tỉnh tây nam VN hiến tặng gần 3 kg gạo.  Theo tương phản, các chính quyền phương tây chỉ gửi cứu trợ nhỏ giọt.'

'Các cơ quan lớn HCTĐQT và UNICEF đòi hỏi điều kiện cho đề nghị từ thiện của họ như là quyền giúp đỡ cho 'phía bên kia'.  Những người quan sát phương tây mà đã đi qua biên giới Thái vào Camphuchia đã thấy trên thực tế điều đó có nghĩa là gì.  Đó là không phải giúp đỡ dân thường, đàn bà hay trẻ em mà là tiếp tế cho tàn quân diệt chủng của Pol Pot.  Vì quyền lợi này các cơ quan cứu trợ đã giữ lại 90% hàng cứu trợ không cho đến với người dân Campuchia.  Tiếp tế cho Khơ-me đỏ phù hợp với chính sách ủng hộ ngoại giao đối với Pol Pot của phương tây.'

'Cuối tháng trước, Hội đồng bảo an LHQ đã chứng kiến một màn trình diễn xuất sắc của các nền dân chủ các nước phương tây, bao gồm cả Mỹ và Anh, họ đã bầu cho việc tiếp tục công nhận chính quyền không còn tồn tại nữa của Pol Pot.  Cái chính quyền mà ngay cả họ đã công nhận là hiếu sát nhất từ khi Hitler.'

'Lý do là phương tây không muốn làm mất lòng đồng minh và bạn hàng kinh tế mới nhất của họ, Trung Quốc.  Bởi vì TQ chính là nước chống lưng chính cho Pol Pot.'

36:56: 15 Tháng 10, ở London, Giám đốc Brian Walker của tổ chức cứu trợ Oxfam nói: 'Chúng tôi chỉ nhận được sự hợp tác toàn diện trong danh dự từ chính quyền Campuchia (mới) và Việt Nam.  Khi tôi rời Campuchia, tổng số hàng cứu trợ từ phương tây qua chín tháng chỉ là 200 tấn.  Tôi không thấy bất cứ ai có thể hãnh diện với cái hoàn cảnh như thế.'

37:50: Bác sĩ giải thích về một loại bệnh truyền nhiễm trong một bệnh viện mà thuốc chữa trị cần có chỉ là penicillin.  Thuốc này chỉ có một ít và do đó không đủ dùng.  Pilger hỏi về một trường hợp cụ thể của một người rằng nếu không có penicillin thì sao.  Bác sĩ trả lời sẽ chết trong vòng hai tuần hay một tháng.  Pilger nói trường hợp này khái quát tình hình của Campuchia, rất nhiều người sẽ chết vì những căn bệnh bình thường có thể dễ dàng chữa khỏi.

38:40: Cảnh một em bé gái khác đang rên rỉ với miệng sưng vù và sẽ chết trong khoảng một tuần.

39:19: Số thuốc ít ỏi có được chỉ đủ để kéo dài thêm sự đau đớn.  Mỗi sáng, các bác sĩ Việt Nam phải đưa ra quyết định ai sẽ sống thêm một ít và ai sẽ chết.  Mỗi ba ca sinh con sẽ có một bị hư thai.

39:40: Cảnh một cô gái trẻ đang rên rỉ chờ chết.  Pilger: 'Những người nhút nhát này không bao giờ muốn đưa ra cái bát để xin xỏ nhưng người phụ nữ trẻ này đã cầu xin thuốc từ chúng tôi trước khi cô ta chết.'

40:23: Pilger: 'Những đứa trẻ này là đoạn cuối của một quá trình được bắt đầu bởi những nhà chính trị ăn mặc tươm tất.  Họ đã đưa ra những quyết định từ một khoảng cách địa lý rất xa với kết quả tàn bạo của chúng gây ra.  Cách làm của họ có thể khác với Pol Pot, nhưng ảnh hưởng thì cũng giống nhau.'

''Bom rơi xuống như mưa', một em bé đã viết như thế vào năm 1973.  Năm mà số lượng bom đổ xuống Campuchia đã lớn hơn gấp rưỡi lượng bom bỏ xuống Nhật trong toàn bộ Thế chiến II.  Cái giá của một mạng người Campuchia là 100 USD tiền bồi thường.'

'William Shawcross, một tác giả người Anh đã phỏng vấn Thái tử Sihanouk năm ngoái, Ông nói: 'Hai người phải chịu trách nhiệm cho thảm kịch ở Campuchia hôm nay, đó là Nixon và Kissinger bằng cách mở rộng chiến tranh sang nước tôi làm chết rất nhiều người Mỹ và nhiều người khác nữa và họ đã tạo ra Khơ-me Đỏ.'

41:30: Một thị trấn bên bờ sông Mekong đã trở về gần như thời đồ đá.  Trước khi lý thuyết ném bom của Mỹ được áp dụng và Pol Pot, nó là một vùng trù phú với nhà gạch, những chủ nông giàu có, thợ lành nghề, kỹ sư, giáo viên,... Nay thì tất cả những gì tòa nhà bằng gạch và đá đều bị sụp đổ và dân sống trong nhà lá, lán tạm bợ.  Còn lại rất ít đàn ông ở tuổi trưởng thành làm việc.  Tiêu chuẩn gạo cho mỗi người là nửa pound (227 grams) gạo mỗi tháng.

43:10: Pilger: 'Tại sao người Việt đã đến Campuchia? Sau 1975, VN bị tấn công liên tục bởi Khơ-me Đỏ.  Chúng đã tàn sát dân ở những làng biên giới và chúng được hỗ trợ bởi 10 ngàn người Trung Quốc.  Bộ ba Pol Pot, TQ, Mỹ nói rằng Việt Nam là một tay sai của Nga.  Bất cứ người nào hiểu về người Việt Nam với tinh thần dân tộc dữ dội đã từng đứng gần như một mình chống lại những kẻ xâm lược trong 30 năm cũng biết rằng chuyện đó là không đúng sự thật một cách buồn cười.  Nhưng sự đe dọa của TQ và ngăn chặn hàng cứu trợ hiện nay đã đẩy Việt Nam và Campuchia vào vòng tay đang chờ đón của Nga.  Người Campuchia và VN đang chiến đấu cho sự sống còn của họ.'

48:43: Pilger: 'Nếu những cảnh khủng khiếp trong cuốn phim tài liệu này có mục đích gì đó thì nó không phải chỉ để tấn công tình cảm của bạn, mà còn để chấm dứt sự im lặng và dửng dưng được tính toán bởi các chính quyền, các cơ quan cứu trợ nhằm đặt Campuchia trở lại bản đồ của loài người.  Khi quân đội Việt Nam lật đổ Khơ-me Đỏ dù với bất cứ lý do gì, họ đã cứu đất nước này khỏi một chế độ nô lệ và một khả năng bị tuyệt chủng.  Các chính quyền phương tây có thể không muốn công nhận điều đó, nhưng đối với người Campuchia thì không có gì rõ ràng hơn sự thật trên.  Vào ngày giải phóng, người phiên dịch của tôi, một cô gái trẻ đáng lẽ đã bị giết nhưng đã được sống tiếp.'

'Chính quyền Anh biết rõ từ đầu những gì Pol Pot và đám cuồng tín đã làm đối với người dân nước này.  Chính quyền Callahan (Thủ tướng Anh giai đoạn 1976-1979) đã nộp một bản báo cáo cho Ủy ban Nhân quyền LHQ với những tin tức gây căm phẫn, sửng sốt như những gì các bạn đã thấy trong cuốn phim này.  Mặc dù vậy, người dân ở đây vẫn bị để cho chết vì thiếu một trong những thứ đơn giản nhất như thực phẩm, thuốc, phương tiện di chuyển bởi vì các chính quyền, bao gồm cả chính quyền của chúng ta đã cương quyết cô lập và trừng phạt Việt Nam.'

'Nói một cách khác, cứu Campuchia có nghĩa là phải hợp tác với Việt Nam.  Người ở cấp cao nhất của Campuchia và Việt Nam đều nói với tôi rằng họ chấp nhận vô điều kiện bất cứ máy bay mang hàng cứu trợ nào đến với Campuchia.  Đã có ba chiếc máy bay như thế đến trong thời gian chín tháng.'

'Mỹ và Châu Âu nắm giữ lương thực dư thừa của TG mà chúng ta dùng để nuôi súc vật.  Ở Anh chúng ta được chữa với penicillin như là một cái quyền con người.  Tất cả chúng tôi những người làm phim này chưa bao giờ thấy những điều như thế này ở bất cứ nơi nào.  Tiếng khóc của trẻ em theo chúng tôi khắp mọi nơi.  Có sáu tháng để cứu một đất nước với phần lớn là trẻ em này.  Chuyện đó có khả năng xảy ra không?'

Hết phim

Giải thích thêm:

Trong bốn năm 1969-1973, chính quyền Nixon-Kissinger đã ném xuống Campuchia 2,7 triệu tấn bom, hơn số bom được thả xuống Nhật trong toàn bộ CTTG thứ II khoảng một triệu tấn.  Trong thời gian này, khoảng 30% dân số Campuchia đã phải chạy loạn.

Nạn nhân trực tiếp là khoảng 500 ngàn người đã chết vì bom.  Hàng trăm ngàn người khác nữa đã chết vì ảnh hưởng của chạy loạn, bệnh tật, hoặc đói.

Tài liệu của chính CIA xác nhận việc ném bom Campuchia của Mỹ là tác nhân chính giúp Khơ-me Đỏ lấy được sự ủng hộ trong dân chúng mà trước đó nó không có.

http://rabble.ca/toolkit/on-this-day/us-secret-bombing-cambodia

Lời kết:

Trong thời đại thông tin ngày hôm nay, những người vẫn cứ mơ mộng ảo tưởng vào Mỹ, núp váy họ để tranh đấu cho tự do dân chủ nhân quyền, dùng một đế quốc như Mỹ làm thước đo giá trị TD, DC, NQ, là loại người ngu xuẩn nhất TG!

Rõ ràng đối với Campuchia, chính quyền Mỹ ném bom thì nhanh và rất hào phóng.  2,7 triệu tấn đã được quăng vô tư, không điều kiện xuống nửa nước Campuchia trong bốn năm nhưng lương thực thì chỉ có 200 tấn thả xuống chung với quốc tế mà còn mè nheo đòi điều kiện trong khi họ đã biết rõ hoàn cảnh của dân Campuchia là như thế nào!

Trên TG này có ai phản đối cho rằng Pol Pot không phải là một tên tội phạm diệt chủng?! Nhưng các chính quyền yêu TD, DC, NQ phương tây đã ủng hộ Pol Pot trong 10 năm, sau khi cả TG đã biết rõ tội ác của hắn!

Việt Nam giúp xây dựng Khơ-me Đỏ khi tổ chức này chưa lọt vào tay của bọn cuồng sát, bản thân Pol Pot chưa lộ mặt và phạm tội ác diệt chủng và bản thân Khơ-me Đỏ không được ủng hộ ở Campuchia.  Đừng ngu đến nỗi lẫn lộn, không phân biệt được sự khác biệt giữa hai sự giúp đỡ của VN và phương tây ở trên.

Giúp đỡ một người chưa phạm tội thì không có tội.  Giúp một tên giết người hàng loạt sau khi đã biết hắn phạm tội thì bạn là một tên tòng phạm.

Phần của Mỹ đã trực tiếp giết tại chỗ 500 ngàn dân Campuchia và hàng trăm ngàn người khác gián tiếp sau đó.  Bằng cách cấm vận lây Campuchia vì Việt Nam đã giải phóng nước này, Mỹ và đồng bọn cũng đã giết chết rất nhiều nạn nhân còn sống sót sau nạn diệt chủng.

Những câu 'quan ngại tình hình nhân quyền' của chính quyền Mỹ là những lời nói láo hào nhoáng nhằm che đậy cho những mục tiêu dơ bẩn bên trong.  Hy vọng các bạn theo đạo thờ Mỹ có một ngày sáng mắt ra để thấy được cái chuyện mà cả TG của những người có lương tâm đều đã thấy được rất rõ ràng hơn nửa TK nay và xa hơn nữa là từ ngày lập quốc của nước Mỹ!

Chú thích ảnh: Bản đồ của 113,176 nơi bị đánh bom bởi Không quân Mỹ trên đất Campuchia từ 1965-1973 (được chỉ thị bằng màu đỏ)

ĐỌC BÁO CŨ

Ảnh: Người Đức biểu tình với các khẩu hiệu chống Thiệu

Báo The Virgin Islands Daily News ngày 9 tháng 4, 1973 đăng một bản tin ngắn với tựa đề, 'Brandt sẽ phớt lờ chuyến thăm của Thiệu'.  Nội dung bài cho biết Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt và các thành viên của chính phủ sẽ không gặp ông Thiệu trong chuyến dừng thăm Bonn, thủ đô Tây Đức.  Thay vào đó Thiệu sẽ chỉ được gặp theo phép lịch sự, một cách miễn cưỡng, tổng thống Gustav Heinemann, người chỉ nắm vai trò hình thức trong hệ thống chính trị Đức.

Báo The Bryan Times ngày 11 tháng 4, 1973 thì có tựa đề 'Thiệu nhận được một cuộc đón tiếp lạnh như băng trong chuyến dừng chân ở Bonn'

Báo Der Spiegel của Đức thì có bài chi tiết hơn miêu tả cuộc gặp này.  Bài báo cho biết đây là một cuộc viếng thăm tự mời mà người Đức chẳng muốn nhưng phải tiếp Thiệu vì yêu cầu của đại diện Mỹ ở Bonn.  Thư ký báo chí Rüdiger von Wechmar than phiền một cách ngoại giao: 'Theo phép lịch sự thỉ phải đáp ứng yêu cầu này thôi'.

Thủ tướng Đức thì nói nặng hơn: 'Có loại khách mà người chủ chỉ thích thấy hắn đi hơn là mong hắn đến.'

Khi gặp được tổng thống Heinemann, Thiệu lại bị ông này tạt nước lạnh vào mặt: 'Tôi nghe nói anh muốn nói chuyện với tôi. Chuyện gì đem anh đến đây?'

Trong cuộc nói chuyện, ông Thiệu cám ơn Đức đã cho tiền viện trợ và giài ngân đúng hạn con số 163 triệu Mark.  Heinemann thì đặt vấn đề về tù chính trị do Nam Việt Nam giam giữ, yêu cầu Thiệu phải đều tra chuyện bạc đãi, tra tấn tù nhân và cho biết việc này chính là lý do người Đức biểu tình chống Thiệu.  Heinemann nói: 'Anh phải giúp tôi thì tôi mới giúp anh được chứ?'

Phản ứng của chủ nhà đã làm cho người khách khó chịu.  Thiệu lúng túng trả lời lẫn lộn nhảy qua nhảy lại giữa tiếng Pháp và tiếng Anh! :v

Trên đường ra sân bay, Bộ trưởng nội vụ Đức Heinemann thẳng thừng từ chối yêu cầu được giao lưu nói chuyện với người Việt đợi Thiệu ở sân bay!

4000 người biểu tình phản đối Thiệu ở Bonn, nhiều người đã tràn vào đập phá tòa thị chính mà cảnh sát chỉ đứng nhìn.  Họ xịt sơn thành chữ lên tường 'Thiệu giết người, Brandt đồng lõa'.

Chuyến thăm ngắn ngủi của Thiệu làm người Đức tổn thất nửa triệu Mark và do đó tác giả đã đặt tiêu đề 'Thiệu mắc mỏ' cho bài báo.

Ăn xin làm người ta sợ phải trốn luôn thật là nhục vậy mà ngoẹo cứ khoe giàu!

Saturday, April 11, 2015

HẬN CỜ VÀNG



Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải là kết thúc cuối cùng của CC mà họ đã phải chết thêm không biết bao nhiêu lần nữa vì cứ tiếp tục CC và tiếp tục ôm hận.

Sau 1975, VN bị Mỹ cấm vận trả thù, coi như tiếp tục chiến tranh kinh tế với VN, thì CC mừng rơn và mơ ngay một ngày chính quyền VN chống không nổi phải sụp đổ và mình sẽ được trở về xin ăn viện trợ Mỹ tiếp.  CC nghĩ: 'Mình 'khôn' như thế, 'giàu' nhất châu Á như thế mà ngày xưa Mỹ chỉ cần cúp viện trợ thôi, không cần cấm vận, thì cũng đã phơi bụng rồi.  Bây giờ CS đã ngu hơn mình còn chịu cấm vận kiểu này cộng thêm chiến tranh Tây Nam, biên giới phía Bắc thì chết là cái chắc'.  Nhưng trời già cay nghiệt lại giúp CS trở mình dẹp yên Pol Pot, dạy lại cho Bắc Kinh bài học cũ ngàn năm và cuối cùng cay nhất lại cũng là 'đồng minh phản bội' dỡ bỏ cấm vận chơi lại với CSVN, mặc cho CC kêu gào chống đối, van xin nài nỉ, giận lẫy ăn vạ.  Thế là lại tan nát tim gan, chết lịm linh hồn!

Nhưng rồi chẳng biết làm gi hơn,  CC lại gượng dậy tiếp tục chống theo quán tính, chống theo bản năng loài chó săn đã được huấn luyện từ gần nửa thế kỷ trước để cắn xé một mục tiêu.  Nhưng càng chống thì VN lại tiếp tục gia nhập hết tổ chức quốc tế này đến cơ quan nọ, lập quan hệ buôn bán bình thường thường xuyên với các nước trên TG trong đó có Mỹ.  Kêu gào mãi Mỹ không nghe, CC lại quay sang vận động đồng hương bóp cổ VN 'không gởi tiền về nuôi CS'.  Lạ cái là càng vận động thì kiều hối càng tăng theo năm tháng!

Lại một dịp kỷ niệm 'Quốc Hận' sắp đến.  Lần này tròn chẵn 40 năm nên CC mơ làm một cái gì đó hoành tráng hơn để phô trương thanh thế thay vì cứ quanh quẩn cối xay ở một cái xóm CC tự sướng nội bộ với nhau.  Đề nghị xin/cho được cắm cờ vàng ở Căn cứ Pendleton/San Diego của Thủy quân lục chiến Mỹ, viện cớ căn cứ này là trại tiếp nhận/tạm trú người Việt đến Mỹ đợt đầu sau khi 'mất nước', đã được đưa ra và bị người phát ngôn của căn cứ tạt cả xô nước lạnh vào mặt một cách phũ phàng:

'Luật Mỹ không cho phép treo cờ của một nước không được công nhận trên đất liên bang.'

http://www.latimes.com/local/lanow/la-me-ln-event-to-mark-40th-anniversary-of-fall-of-saigon--20150410-story.html

'Lá cờ đó không thể được treo ở cơ quan liên bang vì chính quyền Mỹ chỉ có thể công nhận chính quyền hiện tại ở VN.'

'Chúng tôi ở Căn cứ Pendleton hiểu rõ quan tâm của họ, nhưng trên hết chúng tôi phải dựa vào luật lệ.'

http://www.mercurynews.com/california/ci_27888602/vietnamese-move-commemoration-after-flag-barred-from-marine?source=infinite

Ban tổ chức CC đã nhận được 'chỉ đạo không thể thương lượng' từ Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao Mỹ.  Thế là CC lại thêm một phen chết điếng trước một ngày 30 tháng 4.  Cứ tưởng bở tự do luật rừng không cần xin/cho hay xin là phải cho! :v

Có mấy chuyện phải công nhận là CC rất giỏi, không ai bằng cả.  Đó là dựa hơi, ăn vạ, hoang tưởng và mặt dày.  :v

>>M<<

Friday, April 10, 2015

HỒI KẾT CỦA CHIẾN TRANH CC: ÔM TRUNG CỘNG, NIXON GIẾT CHÓ
















Mỹ truyên truyền tẩy não nhiều người VN trở thành giống như loài chó sẵn sàng giết người VN để chống cộng chết bỏ nhưng cuối cùng Nixon lại lết sang tàu để kết giao với Trung Cộng, cúp viện trợ cho đàn chó săn ở VN và do đó đã làm cho cái chế độ ngụy quyền tay sai đó phải chết tức tưởi!


Các bạn CC hay thích chê người khác ngu mà không bao giờ biết thử sờ gáy mình! Tôi thường nghe các bạn nói CS lừa dân VN chống Mỹ rồi chẳng được gì cả.  Dân tộc VN đã được độc lập này, đất nước VN đã thống nhất sau cả trăm năm chia cắt này.  Mấy cái đó là khẩu hiệu kháng chiến đã được hết rồi còn gì?  Lừa cái gì?! Cái chuyện được này loại chó săn tay sai tất nhiên không có khả năng hiểu chứ không phải dân VN ngu nhé.  Chó săn thì dĩ nhiên không hiểu được độc lập là gì và để làm gì rồi! :v

Chuyện Nixon mò sang tận tàu bắt tay với Mao và cắt cơm cho đàn chó ngoan chết tức tưởi mới là quả lừa thế kỷ! Mỹ hô hào đàn chó săn chống cộng chết bỏ ở VN rồi lại bắt tay với tàu cộng! Dụ ngụy quyền ký Hiệp định Paris với lời hứa tiếp tục viện trợ CC nhưng lại cúp luôn làm đám tay sai quen được nuôi nấng chỉ huy từ A đến Z chới với không biết đường nào mà xoay sở.  Dân thì đã trót phản lại mấy đời rồi cho nên không thể dựa vào nữa.  'Đồng minh' khác thì đã theo chân Mỹ bỏ rơi và tránh như tránh hủi! Căn bản là chỉ chờ đến giờ thì chạy thôi.  Thế mà cứ cho là mình khôn! :v

Mấy chục năm sau cũng chẳng có cái bài gì mới mà cứ xúi chế độ này phải ôm hẳn chân Mỹ, làm luôn con chó cho Mỹ để được Mỹ bảo vệ!  Ngoại giao đa phương, đu dây là ngu! :v Ừ, nếu CS mà 'khôn' như các bạn CC thì cũng đã 'mất nước' lâu rồi nhỉ?! Vụ mấy cái đảo thì cứ bắn hải quân tàu trước cho nó được cớ danh chính ngôn thuận phản công tóm trọn một lần cho sạch hết cả như Hoàng sa thì mới là khôn, là không hèn nhỉ?! :v

Chốt lại trên đời này 'khôn' nhất là cái đám bây giờ vẫn còn kiên trì sủa những khẩu hiệu CC cũ rích được bơm vào não từ thời Chiến tranh Lạnh, trong khi chủ mình đã ăn nằm với tàu cộng bốn mươi mấy năm, buôn bán với nó để giúp nó phất lên, khối CS đã tan rã 25 năm và VN chẳng phải là  một nước CS!

>>M<<

Thursday, January 1, 2015

NGHỀ NÓI LÁO



Thủ đoạn nói láo dựng chuyện tung tin đồn nhảm là vũ khí chuyên dùng của phe CC.  Mỹ ngày xưa đã tẩy não họ để thù cộng sản, huấn luyện họ dùng 'tâm lý chiến' (một từ khác của nói láo, dựng chuyện) để chống cộng và lâu ngày kỹ năng nói láo nó ăn vào máu.  Hôm nay khi chỉ còn lại cái miệng và kỹ năng nói láo dựng chuyện, họ vẫn làm chuyện đó mỗi ngày để kiếm sống nhưng vì Việt Nam vẫn còn quá nhiều người ngu dốt nhẹ dạ nên vẫn bị bọn này dụ.




Trong cộng đồng người Việt ở Mỹ có nhiều phe nhóm CC và tuyệt đối không có phe nhóm nào là cộng sản.  Không có phe cộng sản thì họ chụp mũ nhau là cộng sản để chống cộng, để mới có chuyện nói hay vì mục đích khác ví dụ như để...giành ăn! Thành ra nói láo nó thành một cái nghề để kiếm ăn.

Ngày xưa khi đám côn đồ (từ Johnson gọi ngoẹo) này còn trẻ khỏe thì họ giết luôn người nào mà họ cho là cộng sản: https://www.facebook.com/hoighetphandong/photos/a.456124294428873.95601.124739034234069/831369710237661/?type=3&theater

Bây giờ đã già yếu, sợ chết hơn nên chỉ còn biết chửi cộng sản.  Chửi cộng sản hăng đến nỗi phải đem nhau ra tòa.

Tòa tiểu bang California vừa xử cho Công ty báo Người Việt thắng và được nhận đền bù $4.5 triệu từ bị đơn là báo Sài gòn Nhỏ.  Bồi thẩm đoàn không cần nghị án lâu vì rõ ràng là báo Sài gòn Nhỏ chỉ nói láo dựng chuyện trắng trợn nhưng cũng phải mất một phiên tòa cả tháng trời.

Trong bài báo gây tranh cãi và đem đi kiện, báo SG Nhỏ nói cộng sản Việt Nam đã mua báo Người Việt và để người khác đứng tên, cùng lúc tung tin đồn thất thiệt về đời tư của một cá nhân khác.  Chuyện nói láo kiểu như thế thì chúng ta thấy ngoẹo ra rả hàng ngày trên mạng nhưng rất nhiều người cứ cắm đầu cắm cổ mà nghe.  Xem ra có nhiều người còn ngu hơn cả ngoẹo!

Trong những bản tin bịa đặt trên mạng chúng ta không thấy được nguồn gốc của nó hay có nguồn thì cũng là bịa đặt nốt! Điều đó cũng giống như vụ kiện trên, bị đơn đã đưa ra hai nhân chứng và là nguồn gốc của tin tức mà họ dùng là hai cái miệng của Ngô Kỷ và Nguyễn Xuân Nghĩa, hai nhân vật nói láo chụp mũ và bốc phét khét tiếng trong cộng đồng! Thật chứ chả chơi! :v

Chụp mũ bịa chuyện nói láo là chuyện hàng ngày trong cộng động ngoẹo, chỉ vì lần này báo Người Việt đã chuẩn bị đầy đủ và nhất quyết làm cho ra ngô khoai thôi.  Có một dúm khoảng dăm ba ngàn dân chống cộng và vài tờ báo với nhau mà nó loạn thế.  Nếu nhân rộng cái kiểu tự do ngôn loạn nói láo tào lao mà ngoẹo đòi này ở một nước gần 90 triệu dân như Việt Nam thì nó sẽ thành ra như thế nào nhỉ?!

Bao nhiêu năm ngoẹo được hưởng cái tự do ngôn loạn mà mình muốn thì nó đã giúp ích được gì cho cộng đồng Việt ở địa phương? Nó không phải ngay cả là một số không to tướng mà còn là một con số âm nào đó.

Tin về kết quả vụ kiện trên báo Người Việt:

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=200696&zoneid=1#.VKXRMCvF98F

Ảnh: Một trang trong hồ sơ vụ công ty Người Việt Daily News kiện bà Hoàng Dược Thảo và hệ thống tuần báo Saigon Nhỏ. (Hình: Người Việt)