Wednesday, August 15, 2007

Tên khủng bố được Mỹ yêu

Với câu chuyện sau đây, tôi xin bắt đầu loạt bài về những hành động dơ dáy của Mỹ trên khắp thế giới để qua đó chúng ta có thể nhận ra rằng bọn Vịt gian phản quốc đang nhờ cậy loại người gì dạy dỗ Việt Nam về 'tự do, dân chủ, nhân quyền'.
Câu chuyện này là của ông Stephen Kinzer, cựu phóng viên của New York Times, tác giả cuốn sách 'Overthrow: America’s Century of Regime Change from Hawaii to Iraq' (lật đổ chính quyền của nữ hoàng Hawaii năm 1893 tới vụ lật đổ chính quyền Saddam Hussein-Iraq năm 2003)
Stephen Kinzer
Stephen Kinzer
Một ngày tháng 10 năm 1976, một máy bay hành khách của Cuba phát nổ trên bầu trời Caribbean và rớt xuống làm chết 73 người. Đáng lẽ con số đó phải là 74, nhưng có một hành khách cực kỳ may mắn đã thay đổi chuyến bay gần giờ chót. Ông ta đáp chuyến bay sớm hơn tới Havana và biết về tin xấu đó khi đang ngồi bên hồ bơi trong khách sạn Riviera. Người hành khách cực kỳ may mắn đó chính là ông Stephen Kinzer.
Một vài ngày sau ông ta đã dự một buổi lễ rất cảm động với 1 triệu người Cuba và Fidel Castro lên án vụ nổ bom máy bay đó. Trên khán đài là những quan tài phủ cờ của một vài nạn nhân có xác được tìm ra.
Điều tra viên ở Venezuela, nơi chuyến bay khởi hành, nhanh chóng xác quyết thủ phạm lên kế hoạch đánh bom chiếc máy bay trên chính là một tên khủng bố chống Castro nổi tiếng, Luis Posada Carriles. Tuy nhiên hơn 30 năm sau đó, người này vẫn được thong dong ngoài vòng pháp luật. Vì thay vì bị đi tù, người này lại đi làm việc cho CIA.
Một trong những thứ thường được lặp lại nhiều nhất trong diễn văn của Bush chính là việc tố cáo nước khác dung túng khủng bố. Nhưng qua trường hợp của Posada, chính quyền Mỹ đã tự đánh rơi cái mặt nạ đạo đức giả.
Posada đã hoạt động chống Castro qua hơn nửa thế kỷ; sinh ra ở Cuba, chạy sang Mỹ sau khi Castro lên nắm quyền. Năm 1961 tham gia vụ đổ bộ không thành 'Bay of Pigs' do CIA tổ chức, sau đó tiếp tục làm việc cho CIA, tham gia chương trình bí mật chống Castro của CIA, đóng ở Florida Keys.
Sau đó Posada sang sống ở Venezuela và trở thành nhân viên cao cấp trong ngành cảnh sát an ninh trong khi vẫn còn liên lạc với CIA. Sau vụ nổ bom máy bay năm 1976, Posada bị bắt, ra tòa, bị xử có tội, và thọ án trong một xà lim thoải mái cho đến tháng 8/1985 thì đột nhiên biến mất.
Tác giả Stephen Kinzer lại tình cờ biết về hành tung của Posada khi ông sang Nicaragua công tác. Posada mang tên mới là Ramon Medina, xuất hiện ở El Salvador, đang làm việc tiếp liệu cho phe chống chính quyền cánh tả ở Nicaragua, một chính quyền mà Mỹ không ưa.
Từ đó Posada tiếp tục có nhiều lần đụng độ với luật pháp khác, nhưng lại đều chứng tỏ ông ta có một khả năng rất đặc biệt để thoát khỏi một sự trừng phạt đúng mức. Ví dụ tiêu biểu là một lần bị bắt ở Panama với cáo buộc là người lập kế hoạch ám sát Fidel Castro trong hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo các nước Mỹ Latin năm 2000, nhưng lại được ân xá dễ dàng bởi lệnh của tổng thống Panama.
Venezuela, một nước có hiệp ước dẫn độ với Mỹ, đã nhiều lần yêu cầu trao trả Posada trong nhiều năm nhưng đều bị Mỹ từ chối.
Năm 2005 Posada lại xuất hiện ở Miami, lần này bị khởi tố về gian lận nhập cư, nhưng lại được tha bổng với lý do ông ta bị thẩm vấn không đúng cách.
Nước Mỹ đang giam giữ mấy trăm nghi can khủng bố ở Guantanamo và nhiều nơi khác trên thế giới. Nhiều người bị biệt giam vô thời hạn. Họ chưa được ra tòa và ngay cả buộc tội cũng chưa có, trong khi Posada luôn được Mỹ đối xử hết sức tử tế.
Tháng 5/2007, một bồi thẩm đoàn ở New Jersey, Mỹ đang điều tra về vai trò của Posada trong những vụ nố bom khách sạn ở Cuba trong những năm 90. Cho đến nay, sự phục vụ trong CIA trong 4 thập kỷ đã bảo vệ được ông ta.
Sau vụ khủng bố 11/9, Bush nói với thế giới rằng: 'Nếu anh dung dưỡng một tên khủng bố, anh là tên khủng bố'. Nước Mỹ đang dung dưỡng Luis Posada Carriles. Sự nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật của người này là một sự chế giễu trước mặt các nạn nhân của khủng bố ở khắp nơi. Nó cũng cho thấy rằng 'cuộc chiến chống khủng bố' do Mỹ khởi xướng mang đầy màu sắc chính trị và đạo đức giả.
Arrest photograph of Luis Posada Carriles
Arrest photograph of Luis Posada Carriles
Đọc thêm về Luis Posada Carriles: http://en.wikipedia.org/wiki/Luis_Posada_Carriles , trong đó ông này nói với báo New York Times trong một cuộc phỏng vấn về những vụ nổ bom khủng bố khách sạn, nhà nghỉ ở Cuba năm 1997 rằng: 'Chúng tôi buồn khi có người bị chết, nhưng chúng tôi không thể ngừng được'.
Ông ta còn tỏ ra thất vọng trước sự thờ ơ của truyền thông Mỹ trong việc đưa tin về những vụ khủng bố đó, nói rằng: 'Nếu không có quảng bá, thì những việc làm đó trở nên vô tác dụng'.
Nguyên văn bài của Stephen Kinzer:

The terrorist Bush isn't after

http://commentisfree.guardian.co.uk/stephen_kinzer/2007/05/the_terrorist_bush_isnt_after.html

Luis Posada Carriles is a terrorist - but an anti-Castro one, so as far as America is concerned he's all right.

May 15, 2007 3:00 PM

One October day in 1976, a Cuban airliner exploded over the Caribbean and crashed, killing all 73 people aboard. There should have been 74. I had a ticket on that flight, but changed my reservation at the last moment and flew to Havana on an earlier plane.

I was sitting by the pool of the Hotel Riviera when I heard news of the crash. A few days later, I attended a powerfully moving ceremony at which one million Cubans turned out to hear Fidel Castro denounce the bomb attack. On the reviewing stand next to him were flag-draped coffins of the few victims whose remains had been found.

Investigators in Venezuela, where the doomed flight originated, quickly determined that a famous anti-Castro terrorist, Luis Posada Carriles, had probably planned this attack. More than 30 years later, however, Posada remains amazingly immune to prosecution. Instead of going to jail, he went to work for the CIA.

Last week a federal judge in Texas threw out a case against Posada. The Bush administration has power under the Patriot Act to detain him indefinitely, and could even extradite him to Venezuela. Instead it has chosen to protect him.

Few themes have recurred more often in President Bush's speeches than the denunciation of countries that protect terrorists. The Posada case, however, greatly weakens his moral authority to accuse those countries.

Posada's career follows the arc of anti-Castro activism over half a century. He was born in Cuba, fled to Florida after Castro took power, and in 1961 participated in the CIA's ill-fated Bay of Pigs invasion. After its failure he went back to work for the CIA. He joined its clandestine anti-Castro project, based in the Florida Keys.

Later Posada moved to Venezuela where, without cutting his ties to the CIA, he became a senior officer in the security police. After the 1976 plane bombing, he was arrested, tried, found guilty, sentenced and imprisoned. He spent several years in a comfortable jail cell and then, one day in August of 1985, he disappeared.

That was the last I heard of him until the next year. I was in Nicaragua covering the trial of a CIA contractor whose plane was shot down while dropping supplies to anti-Sandinista contra rebels. The contractor was shown surveillance photos taken at Ilopango Airport in El Salvador, where contra supply planes were based, and he identified one of the men he worked with there as Ramon Medina. He was actually Luis Posada Carriles.

It turned out that after his mysterious escape from jail, Posada had left Venezuela using a false Salvadoran passport, changed his name and reportedly even altered his appearance through plastic surgery. He told a journalist who found him in El Salvador that he was engaged in "a fight against international Communism, against Castro in all parts of the world". Apparently the CIA had welcomed him back into its ranks.

Over the years since then, Posada has had several brushes with the law. He was jailed in Panama on charges of plotting to assassinate Castro at a summit of Latin American leaders, but was freed by presidential pardon. Wherever he lands, he shows a remarkable ability to escape serious punishment.

Venezuela, with which the United States has an extradition treaty, has been seeking his return for years. American officials have steadfastly refused to extradite him.

In 2005 Posada surfaced in Miami. Prosecutors filed an immigration fraud case against him, but according to the verdict in last week's case, they used impermissible tactics in interrogating him. He left the court a free man.

The United States is holding hundreds of suspected terrorists in prisons at Guantanamo and elsewhere. Many are locked up indefinitely. They have not been tried or even charged with any crime. Posada, meanwhile, is "jumping for joy" at the way the United States has treated him, according to one of his lawyers.

After last week's verdict, a spokesman for the US Department of Justice said Posada's case is under review. A grand jury in New Jersey is investigating his role in the bombing of Cuban hotels in the 1990s. So far, though, the services he provided to the CIA for more than four decades have protected him.

"If you harbour a terrorist, you are a terrorist," President Bush famously declared after the attacks of September 11, 2001. The United States is now harbouring Luis Posada Carriles. His continued freedom mocks victims of terrorism everywhere. It also shows how heavily the "war on terror" is overlaid with politics and hypocrisy.

Saturday, August 11, 2007

Người Việt Nam có thực sự 'thông minh'

East is east - get used to it

http://www.guardian.co.uk/comment/story/0,3604,1488215,00.html
As Japan has shown, and China will too, the west's values are not necessarily universal
Martin Jacques
Friday May 20, 2005
The Guardian

Not so long ago, Japan was the height of fashion. Then came the post-bubble recession and it rapidly faded into the background, condemned as yesterday's story. The same happened to the Asian tigers: until 1997 they were the flavour of the month, but with the Asian financial crisis they sank into relative obscurity. No doubt the same fate will befall China in due course, though perhaps a little less dramatically because of its sheer size and import.
These vagaries tell us nothing about east Asia, but describe the fickleness of western attitudes towards the region's transformation. A combination of curiosity and a fear of the unknown fuel a swelling interest, and then, when it appears that it was a false alarm, old attitudes of western-centric hubris reassert themselves: the Asian tigers were victims of a crony culture and Japan was simply too Japanese.

During Japan's crisis, western - mainly American - witch doctors advised that the only solution was to abandon Japanese customs like lifetime employment and adopt more Anglo-Saxon practices such as shareholder value. The age-old western habit of believing that its arrangements - of the neo-liberal variety, in this instance - are always best proved as strong as ever: it is in our genes. The fact that the US was at the time in the early stages of its own bubble might have suggested a little humility was in order. In the event, Japan largely ignored the advice and has emerged from its long, post-bubble recession looking remarkably like it did before the crisis.
Japan has long been part of the advanced world. It was the only non-western country to begin its industrialisation in the 19th century, following the Meiji Restoration in 1867. It has the second largest economy and enjoys one of the highest standards of living in the world. By any standards, it is a fully paid-up member of the exclusive club of advanced nations. Yet Japan is quite unlike any western society. In terms of the hardware of modernity - cars, computers, technology, motorways and the rest - Japan is, unsurprisingly, largely familiar. However, in terms of social relations - the way in which society works, the values that imbue it - it is profoundly different.
Even a casual observer who cannot understand Japanese will almost immediately notice the differences: the absence of antisocial behaviour, the courtesy displayed by the Japanese towards each other, the extraordinary efficiency and orderliness that characterise the stuff of everyday life, from public transport to shopping. For those of a more statistical persuasion, it is reflected in what are, by western standards, extremely low crime rates. Not least, it finds expression in the success of Japanese companies. This has wrongly been attributed to an organisational system, namely just-in-time production, which, it was believed, could be imitated and applied with equal effect elsewhere. But the roots of the success of a company such as Toyota lie much deeper: in the social relations that typify Japanese society and that allow a very different kind of participation by the workforce in comparison with the west. As a result, non-Japanese companies have found it extremely difficult to copy these ideas with anything like the same degree of success.
So how do we explain the differences between Japan and the west? The heart of the matter lies in their different ethos. Individualism animates the west, now more than ever. In contrast, the organising principle of Japanese society is a sense of group identity, a feeling of being part of a much wider community. Compared with western societies, Japan is a dense lattice-work of responsibilities and obligations within the family, the workplace, the school and the community. As Deepak Lal argues in his book Unintended Consequences, the Japanese sense of self is quite distinct from the western notion of individualism. As a result, people behave in very different ways and have very different expectations, and their behaviour is informed by very different values. This finds expression in a multitude of ways.
Following the recent train crash in which 106 people died, the president of the operating company, JR West, was forced to resign: this is the normal and expected response of a company boss when things go seriously wrong. Income differentials within large corporations are much less than in their Anglo-Saxon equivalents, because it is group cohesion rather than individual ego that is most valued. Even during the depth of the recession, the jobless figure never rose much above 5%: it was regarded as wrong to solve a crisis by creating large-scale unemployment. Even those who do the more menial tasks - shop assistants, security staff, station attendants and canteen workers - display a pride in their work and a courtesy that is in striking contrast to the surly and resentful attitude prevalent in Britain and other western societies.
In a survey conducted by the Japanese firm Dentsu, 68% of Americans and 60% of Britons identified with "a society in which everyone can freely compete according to his/her will and abilities" compared with just 22% of Japanese. In the same survey, only 15% of Japanese agreed with the proposition that "it's all right to break the rules, depending on the circumstances", compared with 37% of Americans and 39% of Britons. This finds rather bizarre expression - to an Englishman at least - in the way pedestrians invariably wait for the pedestrian lights to turn to green even when there is not the slightest sign of an approaching vehicle. Even the preferred choice of car reflects the differing ethos: whereas in the US and Britain, the fashionable car of choice is a 4x4 - the very embodiment of a "bugger you and the environment" individualism - the equivalent in Japan is the tiny micro-car, much smaller than a Ford Ka - a genre that is neither made nor marketed in the UK.
The differences are legion, and not always for the better. Japan, for example, is still blighted by a rigid and traditional sexual division of labour. In a survey on the gender gap published last week by the World Economic Forum, Japan came 38th out of 58 countries, an extraordinarily low ranking for a developed nation. Or take democracy, that hallowed and allegedly universal principle of our age. Japan has universal suffrage, but the idea of alternating parties in government is almost entirely alien. Real power is exercised by factions within the ruling Liberal Democrats rather than by the other political parties, which, as a consequence, are largely marginal. We should not be surprised: in a society based on group culture rather than individualism, "democracy" is bound to be a very different kind of animal.
Far from conforming to the western model then, Japan remains profoundly different. And so it has always been. After the Meiji Restoration it deliberately sought to engineer a modernisation that was distinctively Japanese, drawing from its own traditions as well as borrowing from the west. Globalisation notwithstanding, this is still strikingly the case. Indeed, Japan remains unusually and determinedly impervious to many of the pressures of globalisation. The lesson here, perhaps, is that we should expect the same to be true, in some degree or another, of the Asian tigers - and ultimately China too. That is not to say they will end up looking anything like Japan: China and Japan, for example, are in many respects chalk and cheese. But they will certainly be very different from the west because, like Japan, they come from very different histories and cultures.
· Martin Jacques is a visiting professor at the International Centre for Chinese Studies at Aichi University in Japan
martinjacques1@aol.com










Friday, August 10, 2007

DioxinVN.info

Thư mời tham gia cộng tác cùng DioxinVN

Tại Việt Nam ,chiến tranh đã đi hơn một phần ba thế kỷ, nhưng hậu quả và di chứng do chất độc da cam/ đioxin thì vẫn còn nặng nề, để lại nỗi đau dai dẳng cho nhiều thế hệ "những người đã đi qua chiến tranh" . Để thông tin một cách đầy đủ hơn cho những người quan tâm trong và ngoài nước, cũng như khơi dậy lòng trắc ẩn, lương tri của mọi người nhằm hỗ trợ, giúp đỡ và làm dịu bớt sự thống khổ của nạn nhân chất độc da cam mà chúng tôi đã làm nên website www.dioxinvn.info . Website đã có 1 số hoạt động tích cực ban đầu như tổ chức các chuyến đi trong cuộc thi “Tiếng Gọi Da Cam” và hiện nay chúng tôi đang rất cần những tình nguyện trẻ giúp sức trong quá trình xây dựng website . Nếu các bạn muốn tham gia Cộng Tác Viên cho website da cam xin hãy liên hệ qua email : dioxinvn.info@yahoo.com hay qua nick Yahoo : millkak

Và chúng tôi sẽ liên lạc lại và thông tin thêm cho các bạn . Chúng tôi hy vọng nhận được sự quan tâm, ủng hộ, chia sẻ và giúp đỡ từ những tình nguyện viên trẻ tới website da cam.

BQT Website DioxinVN

Saturday, August 4, 2007

Một vụ xử tử tại chỗ khác vì cảnh sát cảm thấy sợ!

Vụ này xảy ra tháng 8/2006. Cảnh sát vùng Huntington Beach, một city tiếp giáp với vùng Little Saigon, Orange County, bắn chết một cô gái 18 tuổi vì cảnh sát nói rằng cô ta đe dọa họ với một cây dao. http://www.ocregister.com/ocregister/news/crimecourts/article_1259220.php

Các bạn nếu không biết về vùng Huntington Beach thì tôi xin giải thích thêm. Vùng này giá nhà đắt hơn vùng Westminster và Garden Grove (2 vùng có nhiều người Việt ở nhất) khoảng $100,000 tới $200,000 (giá nhà trung bình hiện nay trong toàn county là khoảng $650,000), vì gần biển hơn và tỉ tệ tội phạm thấp hơn. Là một city của người trung lưu trở lên. Cho nên nếu nói rằng cảnh sát thường xuyên bị đe dọa bởi những 'phần tử vũ trang' để hình thành tâm lý hay sợ hãi giật mình thì 0 thể. Hai cảnh sát với trang bị vũ khí đầy đủ mà 'bị đe dọa' bởi một cô gái 18 tuổi cầm dao? Cho dù họ 'bị đe dọa' thì có cần dùng súng? Cho dù dùng súng thì có cần bắn cho chết?

Nguyên văn câu hỏi đặt ra: 'When can a police officer use deadly force?

Câu trả lời, theo chuyên gia của ngành bảo vệ luật pháp, là: 'Whenever they fear for their own safety.'

Như vậy khi hai cảnh sát cảm thấy bị đe dọa bởi một cô gái 18 tuổi, họ có quyền (được pháp luật bảo vệ) bắn chết cô ta ngay tại chỗ.

Nhưng theo chính quyền Mỹ và một số người Việt phản quốc lưu vong, nhà nước VN lại không có quyền nhốt một vài người khi nhà nước đã chứng minh hành động của những người đó đe dọa tới an ninh và tính mạng của hàng triệu người VN đang sống trong hòa bình?

Con số người 'đe dọa' tới tính mạng của cảnh sát bị xử tử tại chỗ không qua xét xử hàng năm ở Mỹ chắc chắn là hơn con số người bị chính quyền VN nhốt với cáo buộc đe dọa an ninh của cả nước VN vì theo bản tin trên chỉ trong tháng 8 đó, ở Orange Country đã có hai vụ xử tử hình tại chỗ, mà vùng Orange County là thuộc loại có an ninh trên trung bình ở Mỹ.

FRIEND AND NEIGHBOR: Hayley Rose, 14, of Huntington Beach joins others Tuesday to protest the shooting of Ashley MacDonald by Huntington Beach police. Authorities said that 18-year-old MacDonald approached two officers with a knife before they shot her Friday morning. The Orange County Sheriff's Department is investigating the shooting.

DANIEL A. ANDERSON, THE ORANGE COUNTY REGISTER

Wednesday, August 30, 2006

Teen's killing protested

Demonstrators in Huntington Beach question the use of deadly force against a woman officers say threatened them with a knife.

By RACHANEE SRISAVASDI and KIMBERLY EDDS
The Orange County Register

HUNTINGTON BEACH - Ashley MacDonald was shot dead last week by two Huntington Beach police officers who say the teenager came at them with a knife.

The shooting sparked protests outside police headquarters Tuesday and prompted questions by a community wanting to know: When can a police officer use deadly force?

The answer, according to law-enforcement experts: Whenever they fear for their own safety.

It's a judgment call, and sometimes they make mistakes, said Bob Stresak, spokesman for the state Commission on Peace Officer Standards and Training, a group that advises law-enforcement agencies.

"These are human beings in uniform who have been trained to manage and control their fear and do their best to serve the public," Stresak said.

In the past month, three officer-involved incidents – two of them fatal – have made headlines in Orange County.

In some cases officers tried to use weapons that are considered less dangerous, with varying success. A fugitive fleeing Santa Ana police died Aug. 8 after he was shocked with a stun gun. And a husband accused of slaying his wife and mother-in-law was severely injured after Irvine police shot him with rubber pellets Aug. 22.

On Tuesday, about 75 people protested MacDonald's death outside the Huntington Beach Police Department. Why, they asked, would police kill a teenager holding a knife?

One protester held a shirt with fake blood on it.

Others held signs, one of which read, "She was somebody's baby."

"Why are there Tasers and pepper spray if they are not even going to use them?" said Tony Hernandez, 23, a college student who lives in MacDonald's neighborhood. "Shooting her should have been the absolutely, absolute last resort."

In Irvine, officers subdued Bahram Nazeri without using deadly force.Nazeri, 49, faces two counts of murder in the deaths of his wife, Nooshim Mirabadi Khaneh, and mother-in-law, Pavaneh Gharayankordestan, on Aug. 22. Nazeri had a 90-minute standoff with police that ended when he was shot in the head with rubber pellets.

As of last week, Nazeri remained at Western Medical Center in Santa Ana, police said.

"Officers generally would always try to bring an incident to a conclusion without lethal force," said Irvine police Lt. Rick Handfield, explaining why the Irvine officers may have opted not to use standard handguns.

Santa Ana police opted for a stun gun instead of a handgun in chasing another man in an unrelated case.

James Nunez, 27, of Santa Ana died after he was shocked with a Taser stun gun by Santa Ana police. Officers chased down Nunez, who police say was wanted for narcotics violations, and used the stun gun. Cmdr. Baltazar de la Riva does not think Nunez's death was caused by the Taser gun. An autopsy is pending.

Regarding the two officers involved in MacDonald's death, the Orange County Sheriff's Department is investigating the incident and is expected to release the officers' names later this week. The investigation will likely include looking at other weapons the officers had available besides handguns, sheriff's Lt. Steve Doan said.

Thursday, August 2, 2007

'Dân chủ' Bolsa!

'Dân chủ' của các 'nhà dân chủ' lưu vong trên đất Mỹ áp dụng vào Việt Nam sẽ giống cái gì? Mời các bạn theo dõi hai ngày 'hoạt động dân chủ' rất bận rộn và sôi nổi xảy ra trên phố Bolsa, một nơi mà nhiều người, trong đó có nhạc sĩ Phạm Duy, gọi là nơi 'gió tanh mưa máu'!

PHONG TRẦN - Những thắc mắc đặt ra sau cuộc biểu tình Việt Weekly
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw5n31/sauBieuTinh.html
Thứ Bẩy ngày 21 tháng 7 là ngày biểu tình chống báo Việt Weekly được sách động bởi các nhân vật công cụ cho một số dân biểu có ân oán với Việt Weekly. Chủ Nhật biểu tình ủng hộ dân oan khiếu kiện ở Việt Nam, rồi lại kéo qua biểu tình Lee’s Sandwiches, cuối cùng còn vài người đến biểu tình đài Little Saigon Radio. Nhiều đài phát thanh cho rằng, một cuối tuần của biểu tình.
Ngày thứ Bẩy, con số chính xác không ai có, nhiều cơ sở thương mại trên đường Main đều nói rằng, họ ước lượng số người biểu tình trên 300 người nhưng dưới 500 người, báo OC Register cũng chỉ đề là hàng trăm người, còn các báo chí Việt Nam nâng số lên cả ngàn người, thậm chí có người còn dám viết con số 2,000 người. Về số lượng người, để dành cho độc giả đánh giá. Phía cảnh sát thành phố Garden Grove huy động 32 cảnh sát túc trực tại cuộc biểu tình, bao gồm 12 cảnh sát đi ngựa, tuy nhiên để tránh phiền toái họ không báo cáo số lượng người biểu tình.
Ngày hôm sau trên đường Bolsa, có hơn 150 người tham gia biểu tình ủng hộ dân oan khiếu kiện tại Việt Nam, thế mà các báo chí Việt Nam tường trình con số gấp mấy lần. Sau đó, họ kéo qua biểu tình Lee’s Sandwiches. Được 10 phút, cảnh sát đuổi vì những người biểu tình không có giấy phép biểu tình tại Lee’s Sandwiches, họ chỉ xin phép biểu tình trong khu đất của ông Triệu Phát trước Phúc Lộc Thọ. Khoảng 3 giờ hơn, lại có một số người cầm biểu ngữ đến biểu tình trước đài Little Saigon Radio, họ tố giác ông Vũ Quang Ninh, Tổng giám đốc, đã tiếp đón phái đoàn của tổng lãnh sự quán CSVN do Trần Tuấn Anh dẫn đầu (Trần Tuấn Anh cũng là con trai của Trần Đức Lương). Cầm đầu các cuộc biểu tình vẫn là Nguyễn Xuân Tùng, Nguyễn Chí Thiện và Phan Kỳ Nhơn, những người mà hầu hết dân Bolsa đều nói rằng, họ đang muốn lập một thế lực đen, dùng biểu tình để uy hiếp áp đảo bất cứ ai không đồng ý với họ, trong đó có báo Việt Weekly, có Lee’s Sandwiches.
Nhiều người tại Bolsa có thắc mắc, tại sao biểu tình báo VW đông hơn biểu tình ủng hộ đồng bào khiếu kiện? Câu trả lời là, các cụ già khi bị sách động biểu tình tại báo VW đã mệt mỏi, không đủ sức để ủng hộ cuộc tranh đấu trong nước, và vì những người tổ chức trên đường Bolsa chỉ tổ chức cho có lệ, để đồng bào khỏi thắc mắc việc chống phá tuần báo VW, do đó, chỉ chưa tới 200 người tham gia biểu tình trên đường Bolsa. Tội nghiệp cho đồng bào khiếu kiện, họ bị đàn áp bị cướp đất, thế mà chỉ có hơn 150 người ở Bolsa biểu tình ủng hộ họ. Có phải 150,000 người trên toàn quận Cam đều không ủng hộ họ hay không? Câu trả lời là không, chỉ vì 150,000 người kia ghê tởm Nguyễn Xuân Tùng, Nguyễn Chí Thiện và Phan Kỳ Nhơn nên họ không đến biểu tình, khi biết cuộc biểu tình do những người này tổ chức.
Lại có người thắc mắc, tại sao biểu tình chống đài Little Saigon chỉ có vài người? Có người trả lời rằng, vì Nguyễn Chí Thiện và Phan Kỳ Nhơn đi đêm với Vũ Quang Ninh đài Little Saigon, nên bất kể ông Ninh có tiếp lãnh tụ CSVN, 2 người này cũng ráng cho chìm xuồng, không muốn ai biểu tình, mặc dù hiện nay trên các website Internet người ta phát lên hà rầm lời thú nhận của ông Vũ Quang Ninh tiếp đón phái đoàn của ông Trần Tuấn Anh tổng lãnh sự quán CSVN. Còn Nguyễn Chí Thiện và Phan Kỳ Nhơn sợ đụng vào Little Saigon Radio sẽ mất đi tiếng nói trên đài, nên tạm thời vất bỏ “chính nghĩa quốc gia” sang một bên. Ai biểu tình chống Little Saigon là tay sai của báo VW, cần phải loại trừ (?).
Lại có người thắc mắc Nguyễn Chí Thiện đứng ra bảo vệ “chính nghĩa quốc gia” là quốc gia nào? Lúc xảy ra cuộc chiến quốc cộng không biết là ông ta ở nơi nào của miền Nam? Câu trả lời là, ông ta có bảo vệ “chính nghĩa quốc gia” nhưng quốc gia đó là quốc gia chỉ có những người dân hận thù do ông ta lãnh đạo, chứ không phải quốc gia mà 2 triệu người Việt đang bảo vệ ở hải ngoại. Ông ta đang ở ngoài Bắc khi xảy ra cuộc chiến quốc cộng từ năm 1954 đến 1975, ông ta chưa hề là công dân của miền Nam Việt Nam, mà ông ta là công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tên nước của Cộng Sản Bắc Việt dùng trong cuộc chiến).
Lại có người thắc mắc là, qua ngày hôm sau, xướng ngôn viên Đinh Quang Anh Thái trong phần phát thanh buổi sáng, giải độc cho ông Vũ Quang Ninh, tại sao lại dùng chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà không dùng chữ CSVN? Câu trả lời là vì muốn giải độc nên dùng chữ nhẹ đi, vì nếu nói ông Ninh tiếp đón phái đoàn CSVN nghe nặng nề quá, nên mới dùng cụm từ trên. Lại có người hỏi, một người chống cộng tới cùng như Đinh Quang Anh Thái khi nghe ông xếp của mình đón tiếp đón phái đoàn Cộng Sản tại sao không sách động biểu tình? Không dùng căn cước tỵ nạn để truy hỏi? Câu trả lời là lương nuôi vợ con đều do ông xếp phát cho mỗi 2 tuần, biểu tình truy hỏi chống ông ta, lấy gì nuôi vợ con, nên coi như là không biết, chỉ là hiểu lầm.
Đó là những thắc mắc mà người dân Bolsa đã hỏi sau 2 ngày bận rộn cuối tuần qua. Người dân Bolsa tuy thắc mắc nhưng kết quả họ vẫn lao đầu vào miếng cơm manh áo, bỏ mặc những con rối tại Bolsa đang tiếp tục diễn trò. CSVN đang ôm bụng cười ngặt nghẽo, vì họ cho rằng cộng đồng người Việt đã hết thời, nên chọn vài tên khùng ra lãnh đạo phong trào tranh đấu dân chủ tại quê nhà.

Tuesday, July 31, 2007

Nguyễn Hoài Vân-Những điệu hát quen tai

Bài viết này của tác giả Nguyễn Hoài Vân, website: http://perso.orange.fr/nguyen.hoai.van/ . Trong đó có nhiều quan sát và phân tích rất khách quan đáng học hỏi về 'dân chủ' đại nghị và kinh tế thị trường. Những mâu thuẫn trong xã hội tư bản mà những con vẹt không thể nhìn thấy và hiểu được vì họ là...vẹt. Thực ra những mâu thuẫn này đã được phân tích một cách rất kỹ càng và rõ ràng bởi...Marx. Rất tiếc vì nó cần phải động não, mà con người tự nhiên vẫn bị thú tính áp đảo đầu óc nên thế giới sẽ tàn lụi bởi đống rác do chính con người thải ra trước khi con người nhận ra những điều hiển nhiên đó. Xin rút lại việc đổ thừa cho thú tính vì quen miệng chứ tôi không có ý miệt thị thú vật! Thật ra có nhiều người lòng tham của họ hơn con thú nhiều.

Những điệu hát quen tai

Ba mươi năm đã qua. Một thế hệ. Một quãng thời gian mênh mông. Một bước dài trên cuộc hành trình của Lịch Sử… Với thời gian trôi, là sự vật đổi thay, thiên biến vạn hóa. Nó cuốn theo con thuyền Việt Nam lênh đênh giũa vùng Đông Á, giữa những phong ba của thế Toàn Cầu. Giữa dòng thời gian ấy, có chúng ta, những con người có bổn phận nhận thức, suy xét, với trách nhiệm viết nên Lịch Sử của chính mình …

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta có thực sự tiến hóa theo nhịp độ của cuộc sống hay không ? Tư duy của chúng ta, so sánh với ba mươi năm về trước, có những khác biệt nền tảng nào ? Những trang Lịch Sử dự phóng mà chúng ta viết lên trong đầu chúng ta, cái sơ đồ của tương lai mà chúng ta hiện đang hình dung, ngày nay, khác với khi xưa chỗ nào ? Sơ đồ ấy, trên nguyên tắc phải đến từ sự phân tích thực tại một cách chính sác, rồi nhận ra được những mâu thuẫn của thực tại ấy và mô phỏng ra những con đường vượt lên trên các mâu thuẫn này để đi vào tương lai. Vấn đề là chúng ta có thực sự nhìn vào thực tại hay không ? Hoặc giả chúng ta vẫn nhắm mắt nhìn một giấc mộng , một chuỗi những niềm tin được thể nhập vào những « thực tại » tưởng tượng của một thế giới … trong mơ !

Có những bài hát, những điệu ru quen thuộc, êm ả, trầm ấm, đã đưa tư duy vào giấc ngủ. Rồi, trong cái cảnh giới mộng mơ của những bài hát ấy, Lịch Sử không còn chuyển hóa, mọi sự mọi vật như ngừng lại trong một thiên đường tưởng tượng. Những bài hát ấy là những bài hát nào ?

Có ba bài hát, thường được lập đi lập lại trên mọi đầu môi chót lưỡi, được trải ra trên trăm ngàn trang giấy, với những nhịp điệu khác nhau, những kỹ thuật hòa âm ít nhiều phong phú, được trình tấu bởi những giàn nhạc vĩ đại hay xướng lên bởi vài ca sĩ lẻ loi … Thật vậy , muôn ngàn diễn văn, phát biểu, thuyết trình, xã luận, không kể mọi tuyên ngôn tuyên cáo đủ loại đủ cỡ, xét cho cùng, cũng không ra ngoài ba bài hát quen thuộc. Đó là : dân chủ, kinh tế thị trường và bài ca phát triển …

Chúng chứa đựng những mâu thuẫn và bế tắc, đưa đến một khẳng định : tương lai nhân loại không thể là sự nối dài và chắp vá của ba yếu tố này như người ta hiện vẫn thường quan niệm.

DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG :

Người ta thường tin tưởng rằng dân chủ và kinh tế thị trường có tác dụng hỗ tương, đặc biệt là kinh tế thị trường giúp cho sự hình thành của dân chủ, và dân chủ là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của kinh tế thị trường. Thật ra, bên dưới những khía cạnh hợp tác trên bề mặt (1), ở trong chiều sâu, dân chủ và kinh tế thị trường có những mâu thuẫn nền tảng.

Dân chủ (trong bài này dân chủ có nghĩa là dân chủ nghị trường), trong sự hoạt động của nó, cần đến những cấu trúc lệ thuộc vào một biên giới rõ ràng, thông thường nhất là biên giới quốc gia. Thị trường, ngược lại, không biết đến ranh giới. Môi trường hoạt động của nó rốt rào là toàn cầu. Những quyết định của thị trường có thể mâu thuẫn với những quyết định dân chủ của người dân một quốc gia. Thị trường có thể áp đặt quy luật của mình trên luật lệ an sinh xã hội, luật lao động, luật tài chánh, thuế khóa, hối đoái v.v… của một quốc gia. Áp lực của thị trường có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Ảnh hưởng điều chế của dân chủ trên áp lực của thị trường thì, ngược lại, có khuynh hướng ngày càng suy giảm, ngay cả tại các nước tiền tiến. Một chính phủ hữu khuynh hay tả phái tại Pháp, Đức, Ý, hay Tây Ban Nha, rốt cuộc cũng vẫn phải chọn một con đường thực tế, tức là phù hợp với những đòi hỏi của thị trường tự do trong cái thế toàn cầu không thể tránh được.

Mặt khác, dân chủ hướng đến đồng thuận, trong khi kinh tế thị trường trong bản chất là cuộc chiến của mọi người chống lại mọi người, để tranh thủ lợi nhuận và để sống còn. Dân chủ tìm sự điều tiết, tìm con đường trung hòa, trong khi kinh tế thị trường tìm sự phát triển không hạn chế càng nhanh càng tốt. Đình trệ, đối với một công ty, là bước đầu của suy thoái, và suy thoái, là con đường dẫn đến tiêu diệt. Lý tưởng của dân chủ là quyền lợi của đại đa số, trong khi bản chất của kinh tế thị trường đưa đến việc tập trung lợi nhuận vào tay một số người càng ngày càng thu hẹp. Thật vậy, hai trăm hai mươi lăm người giàu có nắm giữ hơn phân nửa lợi nhuận của toàn nhân loại. Trong một thể chế dân chủ, con người là mục tiêu cuối cùng của tất cả, trong khi lý luận của kinh tế thị trường cho con người chỉ là công cụ của sản xuất và tiêu thụ, là guồng máy điều tiết sự tiêu thụ hàng hóa đồng thời cũng chính là hàng hóa. Những giá trị rất được tôn quý của con người, như nghệ thuật, tôn giáo, và ngay cả y tế, trong kinh tế thị trường cũng rơi vào khuôn khổ của hàng hóa. Chúng ta có thể tiếp tục nêu lên nhiều mâu thuẫn tương tự giữa dân chủ và kinh tế thị trường …

DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRƯỚC CÁC VẤN NẠN CỦA THỜI ĐẠI :

ĐỐI KHÁNG VỚI THIÊN NHIÊN

Chúng ta đang đứng trước những nguy cơ có thể đưa đến sự sụp đổ của xã hội con người. Trữ lượng dầu hỏa chỉ còn 40 năm, khí đốt 70 năm, uranium 55 năm. Hàng năm diện tích rừng bị phá hủy rộng bằng gần nửa diện tích của nước Việt Nam . Mỗi ngày từ 100 đến 300 giống sinh vật biến mất trên mặt địa cầu, trong khi giống người càng lúc càng bị đe dọa bởi những ô nhiễm do chính mình tạo ra. Sự đối kháng giữa con người với thiên nhiên sẽ đưa đến sự hủy diệt loài người.

ĐỐI KHÁNG GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

Bên cạnh đó, là sự đối kháng giữa con người với con người. Mỗi 4 giây đồng hồ có một người chết đói (Assoc.Action Contre la Faim – 17/10/2004). 1,3 tỷ người có dưới 1 MK lợi tức mỗi ngày. 2,6 tỷ không có được những phương tiện vệ sinh căn bản. 1 tỷ người không có nhà cửa đúng nghĩa. 1,3 tỷ người không có nguồn nước sạch. 880 triệu người không với đến được những cấu trúc y tế. 840 triệu người thiếu ăn trầm trọng. Trong khi đó mức tiêu thụ toàn cầu tăng lên gấp 6 lần từ thập niên 50 cho đến cuối thập niên chín mươi. 86 % của sự tiêu thụ ấy đến từ 20 % người giàu. Những người này chiếm hữu 58 % năng lượng trên thế giới, trong khi 20 % người nghèo nhất chỉ sử dụng có 4 % năng lượng. Hai mươi phần trăm người giàu nhất tiêu thụ 45 % thịt và cá đối với 5 % thịt cá tiêu thụ bởi 20 % người nghèo. Ba người giàu nhất trên thế giới có tài sản cao hơn tổng sản lượng của 48 quốc gia nghèo nhất. Để đạt được chỉ tiêu giáo dục cơ bản nhất cho các nước nghèo, cần khoảng 6 tỷ MK ngân sách phụ trội cho ngân sách hiện có. Số tiền ấy chưa bằng tiền túi của trẻ em Pháp (7 tỷ MK 1 năm, 1/3 tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam) và bằng một nửa số tiền người Hoa Kỳ và Âu Châu dùng để mua dầu thơm mỗi năm. Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho dân nghèo trên thế giới chỉ cần khoảng 13 tỷ MK mỗi năm, trong khi số tiền nuôi súc vật trong nhà tại Âu Châu và Hoa Kỳ là 17 tỷ MK một năm. Chi phí y khoa cho một người Mỹ là 4887 PPA (parité de pouvoir d’achat) sánh với 134 cho 1 người Việt Nam và 14 cho 1 người Ethiopa (tỷ lệ 3 phần ngàn). Các nước giàu sử dụng lợi khí quảng cáo (435 tỷ MK một năm) bán cho các nước nghèo những vật phẩm mà họ chưa lường nổi mối nguy hại, như một số loại thuốc trừ sâu, không kể thuốc lá (Hoa Kỳ bán cho Á Châu 150 tỷ MK thuốc lá mỗi năm). Trong 20 năm, tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá giảm 10 % ở các nước giầu và tăng 64 % ở các nước nghèo : số người Trung Hoa hút thuốc tăng gấp ba lần, số người Indonesia tăng gấp đôi … (phúc trình Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc).

Người ta thường nghĩ các nước giàu giúp tiền cho các nước nghèo. Sự thực là ngược lại : các nước nghèo phải trả cho các nước giàu khoảng 250 000 MK mỗi phút, do tiền lời của những món nợ khổng lồ không bao giờ trả nổi số vốn. Áp lực tài chánh kinh khủng này khiến các nước nghèo sãn sàng bán tất cả những gì họ có, sẵn sàng chấp nhận ô nhiễm và các tai họa mội sinh (thí dụ khi phá rừng), sẵn sàng chuyển hướng canh tác sang các hoa màu có thể xuất cảng được (thí dụ cà phê) thay vì những hoa màu đem lại thực phẩm nuôi dân, sẵn sàng chấp nhận những điều kiện thiệt thòi trên khía cạnh con người để thu hút vốn đầu tư, để liên doanh hay hợp doanh với các công ty ngoại quốc. Thậm chí những món tiền trợ cấp hay cho vay đến từ các nước giàu lại thường rơi trở vào tay các đại công ty của chính các nước này. Nhiều màn « xóa nợ » cũng không ra ngoài mô thức ấy (2).

Cùng lúc ấy, những nước giàu như Hoa Kỳ lại xây dựng sức mạnh của mình, kể cả sức mạnh quân sự vô địch, trên những món nợ khổng lồ không kém, tức trên sự đóng góp của tất cả người dân của các quốc gia cho Hoa Kỳ vay tiền, cùng với những người dân trực tiếp hay gián tiếp sử dụng đồng Mỹ Kim trong việc mua bán, trao đổi, tức hầu hết con người trên thế giới …

Áp lực của nạn thất nghiệp cũng vô cùng nặng nề. Giữa năm 1993 và năm 2003, số người thất nghiệp trên thế giới tăng từ 140,4 triệu người lên 186 triệu người, theo phúc trình cũa ILO (International Labour Organization) thuộc Liên Hiệp Quốc. Đây là con số cao nhất chưa bao giờ đạt tới. Ngay cả trong vùng Đông Á với những chỉ số phát triển cao nhất thế giới, số người thất nghiệp cũng gia tăng. Tỷ số thất nghiệp tại Đông Nam Á là 3,9% năm 1993 và 6,3% năm 2003. Áp lực thất nghiệp đưa đến những nhân nhượng của các nước nghèo trên khía cạnh luật lao động, luật an sinh xã hội, trong việc kềm chế đồng lương, trong việc đè nén các cấu trúc cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người làm công. Những nhân nhượng không được điều tiết như thế khiến cho tình trạng xã hội tại các nước này rất dễ bùng nổ. Chỉ cần một cuộc khủng hoảng sâu rộng, không thể tránh được trong các chu kỳ kinh tế, là người ta có thể chứng kiến những rối loạn lớn, như lời tiên đoán của Bernanos : « bước chân người nghèo sẽ làm rung chuyển địa cầu ». Thật ra, không cần những cuộc khủng hoảng mạnh mẽ, mà chỉ cần ý thức được rằng tình trạng chênh lệch nặng nề hiện tại không có hy vọng quân bình lại được, đủ khiến cho người dân tại các vùng nghèo khổ có khuynh hướng quy tụ nhau lại trong các ý thức hệ của quá khứ, như niềm tin tôn giáo hay dân tộc chủ nghĩa quá khích, để kình chống lại các nước giàu, với những phương tiện nhà nghèo, như chúng ta hiện thấy qua nạn khủng bố tràn lan. Một trong những hậu quả có thể lường trước của sự phân tranh này là sự cô lập, hay tự cô lập, của các nước giàu có, một chiều hướng hoàn toàn mâu thuẫn với khuynh hướng « toàn cầu hóa » cần thiết cho kinh tế thị trường. Những ốc đảo giàu có sẽ được vây quanh bởi những hàng rào bảo vệ càng ngày càng mọc cao trước đám dân nghèo vây quanh tìm cách xông vào dành dựt vài mảnh vụn hàng hóa, vài vật phẩm tiêu thụ thừa thãi (3) !

HUỶ DIỆT GIÁ TRỊ CON NGƯỜI CỦA CUỘC SỐNG

Thật ra, ngay cả trong các nước giàu, ảnh hưởng của kinh tế thị trường càng gia tăng thì con người lại càng nghèo đi, không nhất thiết là trên phương diện tài chánh, như tại các quốc gia không giải quyết nổi nạn thất nghiệp, mà trên phương diện tinh thần. Đời sống trở nên vô vị, số người tự tử, khủng hoảng tâm thần, đầu óc căng thảng, gia tăng đều đặn, cùng với sự sụp đổ của các giá trị nền tảng. Con người mất mọi niềm tin, sống ích kỷ trên bờ sự chết như một vực sâu không đáy. Trên bờ vực thẳm ấy, con người chỉ còn cảm giác hư vô như thực tại duy nhất … Những hàng hóa chồng chất đầy nhà đầy cửa, những phản xạ thi đua tiêu thụ, không khỏa lấp được sự trống vắng của nội tâm. Thêm vào đó, những màn giải trí nhắm vào những thị hiếu thấp kém được kỹ nghệ giải trí bày ra để thu hút những thị trường càng rộng lớn càng tốt. Chúng càng ngày càng lấn áp và tiêu diệt những khuynh hướng nghệ thuật thực sự sáng tạo, mang cá tính đặc thù, hướng vào con người như những cá nhân, chứ không phải như một tập thể đồng loạt tiêu thụ một cách máy móc, một bầy cừu con này cắm cổ đi theo con khác, dẫn dắt bởi vị thần Quảng Cáo …

HY VỌNG HAY LÀ ẢO VỌNG ?

Tàn phá môi sinh đưa đến sự hủy diệt của nhân loại như một thành phần của môi sinh. Khánh kiệt tài nguyên đưa đến sữ sụp đổ của của một xã hội con người đặt trên căn bản chính yếu là tiêu thụ. Chênh lệch giàu nghèo đưa đến tranh chấp và hủy diệt con người bởi con người. Sự sụp đổ của các giá trị tinh thần đưa đến hủy diệt gia trị con người của cuộc sống, khiến cuộc sống không còn ý nghĩa, chìm dắm trong hư vô chủ nghĩa. Trước những vấn nạn ấy, ta chờ đợi được gì ở dân chủ và kinh tế thị trường để tìm ra một lối thoát ?

VỞ TUỒNG DÂN CHỦ

Trước tiên là dân chủ. Nền dân chủ nghị trường hiện hành càng ngày càng trở thành một sân khấu, với những diễn viên đóng những vở tuồng hết Tả dến Hữu, hết cấp tiến đến bảo thủ, nhưng rốt cuộc không đem lại một thay đổi nền tảng nào trong xã hội. Các đảng phái trở thành những lò tuyển chọn và đào luyện diễn viên, với những ưu tư nặng phần hình thức hơn là nôi dung tư tưởng. Người ta gọt dũa một ứng cử viên để kẻ này trở nên « ăn khách » nhờ ăn nói lưu loát, mặt mũi sáng sủa, ăn mặc đúng với thị hiếu của thành phần cử tri mà mình nhắm đến, hơn là suy nghĩ xem thử kẻ ấy khi được bầu lên sẽ đem lại được gì cho xã hội, với những phương tiện nào, trong thời hạn ra sao ? Người ta cũng bỏ tiền rừng bạc biển để tổ chức bôi bẩn ứng viên đối nghịch, kể cả bằng những phương tiện hạ cấp nhất, thay vì vẽ ra trong sự tranh luận đứng đắn, những con đường tương lai khả hữu, để mọi người cùng nhau chọn lựa. Lý do vì trong chính trường hầu như ai cũng biết rằng phe này hay phe khác lên cầm quyền, rốt cuộc nền chính trị được áp dụng cũng sẽ là một chính trị được gọi là « thực tiễn », là « trung phái » (4), trong thực tế là một chính trị không đem lại thay đổi căn bản nào, một chính trị với mục đích duy nhất là lập lại và nối dài tình trạng hiện tại trong tương lai. Nối dài hiện tại ? Trong khi chúng ta đều biết hiện tại nối dài không thể đưa đến tương lai nào khác hơn là sự sụp đổ của xã hội con người !

BẦU CỬ VÀ ĐẤU TRANH

Nhu cầu nối dài hiện tại thực ra được áp đặt bởi kinh tế thị trường. Lý do vì trong kinh tế thị trường nhà đầu tư cần thời gian và sự ổn định của xã hội, tức sự nối dài của hiện tại để lấy lại vốn liếng mà mình đã bỏ ra, và thu hoạch lợi tức. Kinh tế thị trường quyết định hướng đi của dân chủ qua quyền lực của nó trên truyền thông, trên các guồng máy chính quyền, đảng phái, tôn giáo, kể cả các cơ cấu giáo dục, thể thao, thiện nguyện v.v… Khi đại đa số cấu trúc và tác nhân trong một xã hội biến thành hàng hóa (5), thì quyền lực của kinh tế thị trường không gì ngăn cản nổi. Các tầng lớp dân nghèo bị gạt ra khỏi công việc ứng cử, do những ngân quỹ tranh cử to lớn mà họ không bao giờ có được. Họ cũng tự gạt mình ra khỏi công việc bầu cử. Hiện tượng số người đi bầu giảm sút được thấy ở nhiều nơi. Ngay cả ở những nước mới vừa tranh đấu gian khổ để thoát khỏi độc tài, để được quyền bầu phiếu, chỉ vài năm sau, người dân cũng chán ngán thờ ơ trước việc đi bầu. Tại nhiều quốc gia, tỷ lệ người dân đi bầu chỉ khoảng trên dưới 50 %, nên người thắng cử chỉ đại diện 25 đến 30 % số dân chúng có ghi danh vào cử tri đoàn, tức một tỷ lệ nhỏ hơn nữa nếu tính trên toàn thể người dân ở tuổi trưởng thành. Tại Pháp, người dân càng ngày càng ít đi bầu, nhưng lại càng ngày càng sẵn sàng tham gia vào các cuộc đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi thực tế. Thùng phiếu vừa đưa một đảng phái lên cầm quyền chưa đầy vài tháng thì đường phố đã nổi lên chống đối chính sách của chính quyền này một cách mãnh liệt, như thể người dân đi bầu, và người dân biểu tình đình công không liên hệ gì với nhau cả ! Cũng như giới chính trị chuyên nghiệp, người dân đã hiểu : bầu cử không đem lại thay đổi trong đời sống hàng ngày bằng trực tiếp đấu tranh.

DÂN CHỦ VÀ … VÔ TRÁCH NHIỆM

Như vậy, sự tê liệt của dân chủ trong hình thức áp dụng hiện tại, khiến cho người ta khó mà trông cậy được vào đó để giải quyết các vấn nạn đã được nêu ra. Ai có thể nghĩ được rằng một chính quyền dân cử, có thể nói với cử tri của mình : phải thắt lưng buộc bụng, phải giảm tiêu thụ, để bớt ô nhiễm, để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phải chia sẻ phú hữu và công ăn việc làm với người nghèo khó, không những trong đất nước mình mà cả trên toàn thế giới, phải bớt ích kỷ, phải ý thức trách nhiệm của mình dối với nhân loại và Thiên Nhiên … Thái độ của nền dân chủ chỉ đạo trên thế giới là Hoa Kỳ, đối với việc bảo vệ môi sinh (thỏa ước Kyoto) là một thí dụ đáng suy nghĩ. Một chính quyền mà mục tiêu chính yếu là tranh thủ quyền hành, với một hay vài nhiệm kỳ hạn chế, chỉ biết duy trì một tình trạng đại khái ổn định trong một thời gian hạn chế, chứ không hề mang trong bản chất của mình khả năng hay tham vọng giải quyết những vấn nạn lâu dài. Khi có thể vứt được một vấn đề khó khăn cho những chính quyền khác trong tương lai phải lãnh giải quyết, thì một chính quyền như thế thường không ngần ngại. Tại Pháp, sự thâm thủng của quỹ an sinh xã hội là 14 tỷ euros riêng cho năm 2004, cộng thêm với 35 tỷ thiếu hụt đã có sẵn. Giải pháp : một chương trình trả nợ trải dài đến năm 2024, tức 20 năm sau, rất ít hy vọng thành công, tức sẽ còn phải kéo dài thêm vài chục năm nữa. Người ta đặt trên đầu những đứa trẻ hiện chưa sinh ra gánh nặng bù dắp những chi phí thuốc men của cha mẹ, ông bà của chúng ! Vấn đề hưu trí cũng được giải quyết một cách tương tự … Các thí dụ này cho thấy trong một nền dân chủ, sự ích kỷ và vô trách nhiệm trải rộng từ chính quyền đến người dân. Nếu một nền dân chủ có thể ích kỷ và vô trách nhiệm như thế đối với chính con cháu mình, thì thử hỏi làm sao có thể đòi hỏi được ở nó một tinh thần trách nhiệm đối với người nghèo khổ ở một đất nước xa xôi, đối với cây cỏ súc vật, môi sinh, rừng, biển … ?

CUỘC CHIẾN GIỮA MỌI NGƯỜI VÀ TẤT CẢ

Bây giờ ta thử nhìn về phía kinh tế thị trường. Vấn đề của kinh tế thị trường là nó luôn phải gia tăng sản xuất. Lý do tương đối đơn giản. Khi một xí nghiệp sản xuất một món hàng, giá trị của món hàng ấy được coi là tương ứng với thời gian làm việc cần thiết để làm ra nó. Khi xí nghiệp này đầu tư vào việc gia tăng năng xuất và làm ra được 110 thay vì 100 món hàng tương tự, với cùng một thời gian làm việc, thì giá trị của mỗi món hàng bị giảm đi trên một nhịp độ gần với mức độ gia tăng sản xuất. Giá bán của nó cũng giảm. Số tiền thu được cho mỗi món hàng giảm đi, khiến cho xí nghiệp có thể thiếu thu hoạch để bù lại cho việc đầu tư vào sự gia tăng năng xuất. Giải pháp cho tình trạng này là càng tăng thêm năng xuất để hy vọng với số hàng sản xuất càng nhiều hơn nữa, trong cùng thời gian làm việc, sẽ giúp cho nhà đầu tư gia tăng thu nhập để bù lại số vốn đầu tư, cộng thêm lợi nhuận. Sự gia tăng năng xuất mới này lại khiến giá trị của mỗi món hàng giảm thêm đi, giá bán của nó sụt thêm xuống, cùng với số tiền nó đem lại cho nhà đầu tư. Kết quả là lại phải tiếp tục nâng cao năng xuất, tạo nên một « vòng luẩn quẩn ».

Việc chạy đua sản xuất khiến kinh tế thị trường luôn phải mở rộng tầm ảnh hưởng của nó, để tiêu thụ tất cả hàng hóa nó sản xuất ra. Đối với từng xí nghiệp sự bắt buộc mở rộng tầm ảnh hưởng của mình mang ý nghĩa một cuộc chiến không nhân nhượng với tất cả những gì có thể cản trở sự bành trướng ấy. Xí nghiệp trong cuộc chạy đua này phải « chiến đấu » không những với các xí nghiệp cạnh tranh, mà cả với những cấu trúc xã hội, nghiệp đoàn, chính quyền, luật pháp, thiên nhiên v.v… có thể cản trở nó. Đó là tình trạng « chiến tranh » của « mọi người chống lại tất cả ».

THẤT NGHIỆP, TẬP TRUNG PHÚ HỮU, VÀ TÀN PHÁ THIÊN NHIÊN

Sự cần thiết gia tăng năng xuất cũng khiến cho các xí nghiệp không ngừng đầu tư vào những phương tiện kỹ thuật nhằm giảm thiểu thời gian làm việc của người làm công. Máy móc, kỹ thuật, càng ngày càng tiến bộ, càng làm thêm được nhiều công việc thì xí nghiệp càng bớt cần đến việc làm của nhân công. Hậu quả rất dễ nhận ra là nạn thất nghiệp gia tăng. Mặt khác, sự tăng trưởng của phú hữu qua máy móc, kỹ thuật, có nghĩa là sự gia tăng giàu có ấy chỉ dành cho những người có vốn, có khả năng đầu tư vào máy móc, kỹ thuật. Người làm công chỉ có phú hữu đặt trên căn bản sức làm việc của mình, không tham gia vào sự gia tăng giàu có này. Đó là một trong những lý do khiến cho phú hữu càng ngày càng tập trung vào tay những người có nhiều vốn nhất, đã nói đến ở trên.

Môi trường thiên nhiên cũng là « nạn nhân » của áp lực gia tăng sản xuất. Áp lực này mạnh đến độ các xí nghiệp thường bất chấp những tai hại môi sinh, để tìm cách thủ lợi nhất thời, làm thỏa mãn các nhà đầu tư, các thị trường chứng khoán, và vứt lại cho các thế hệ mai sau những ô nhiễm đầu độc sự sống. Nhà bác học Hubert Reeves quả quyết con người sẽ biến mất trên quả địa cầu như loài khủng long, nếu đà ô nhiễm hiện tại vẫn tiếp tục. Điều ngặt nghèo là viễn tượng ấy không nằm trong những tính toán tài chánh, không ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, bằng sự đình trệ hay suy giảm sản xuất của một xí nghiệp (6) ! Bảo vệ môi sinh chỉ có thể đến từ quyền lực chính trị. Nhưng, như chúng ta đã thấy, quyền lực chính trị, qua dân chủ đại nghị, luôn phải chiều theo quy luật của kinh tế thị trường …

Sự khánh tận tài nguyên thiên nhiên cũng là một hậu quả của áp lực gia tăng sản xuất. Một thí dụ : mặc dầu đã phải chịu nhiều cơn khủng hoảng dầu hỏa từ năm 1974 đến nay, người ta vẫn không thực sự phát triển những năng lượng thay thế, ngoại trừ năng lượng nguyên tử. Lý do vì sau những giai đoạn tăng vọt, giá dầu hỏa vẫn tương đối rẻ, khiến các xí nghiệp vẫn chọn con đường dễ dãi nhất, là tiếp tục duy trì sự sản xuất dựa trên năng lượng dầu hỏa. Trường hợp của kỹ nghệ xe hơi rất đáng ghi nhận : khi giá dầu giảm mạnh, trong thập niên 90, người ta đẩy mạnh việc sản xuất những chiếc xe 4x4 (SUV) rất tốn xăng. Người ta chỉ nhắm vào lợi nhuận ngắn hạn, vào duy trì sản xuất trong một thị trường càng ngày càng khó khăn, bằng một lựa chọn tai hại cho tương lai. Dầu hỏa, dù rẻ, nhưng chỉ trong hơn một thế hệ, sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, sự tính toán lâu dài và nặng về công ích ấy không nằm trong tính toán của các nhà đầu tư. Vì thế, nỗ lực phát triển năng lượng thay thế, cũng như việc bảo vệ môi sinh, chỉ có thể đến từ quyền lực chính trị, với những yếu kém và hạn chế mà chúng ta đã biết. Thật ra, dầu hỏa chỉ là một khía cạnh của nạn khánh tận tài nguyên. Các nguyên liệu khác cũng suy giảm nhanh chóng cùng với áp lực gia tăng sản xuất tại các nước đã phát triển vá các nước đang phát triển mạnh mẽ như tại Á Châu. Một khía cạnh đáng chú ý là khủng hoảng dầu lửa cũng kéo theo khủng hoảng các nguyên liệu khác, vì muốn trích xuất các nguyên liệu này người ta phải cần một nguồn năng lượng, như … dầu hỏa.

GIẤC MƠ PHÁT TRIỂN

Phát triển đã trở thành một tín điều mà không ai dám chối cãi. Người ta cũng thêu dệt quanh « phát triển » những huyền thoại dần dần bị thực tế phủ nhận. Một trong những huyền thoại ấy khẳng định rằng dân chủ và kinh tế thị trường là những điều kiện không thể thiếu được của phát triển. Thực tế là Trung Hoa, cũng như Việt Nam, đã phát triển với những chỉ số cao mà không hề cần đến dân chủ cũng như kinh tế thị trường đúng nghĩa. Tại Việt Nam quyền tư hữu chưa rõ ràng, hệ thống luật pháp cũng như hệ thống ngân hàng, tín dụng, v.v… còn sơ khai, và đương nhiên là chưa có dân chủ. Trung Quốc thì trong suốt giai đoạn cô lập từ 1960 đến 1981 có tỷ lệ tăng trưởng bình quân là 5%, trong khi dân chủ và thị trường đều vắng mặt, viện trợ không có và quan hệ ngoại thương cũng hạn chế ở mức tối thiểu. Đến thập niên 70 Trung Quốc dần dần « mở cửa » nhưng phải đợi đến Đại Hội Đảng lần thứ 14, năm 1992, quan niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mới xuất hiện. Singapore không có dân chủ đúng nghĩa nhưng vẫn là mẫu mực cho sự phát triển. Nam Hàn cũng đã phát triển mạnh mẽ từ giai đoạn chưa thực sự dân chủ …

Nhiều người cho rằng những sự phát triển ấy rất mong manh, và sẽ sụp đổ hay ngưng trệ sau một giai đoạn ngắn. Thực tế cho thấy chưa có dấu hiệu ngưng trệ lâu dài, mặc dù chắc chắn sẽ có ngày ngưng trệ. Dù sao, khi sự ngưng trệ xảy đến, cũng không có gì cho phép quả quyết rằng đó là hậu quả của thiếu vắng dân chủ hay kinh tế thị trường. Gần đây, khi vùng Đông Nam Á lâm vào khủng hoảng kinh tế, thì chính các nước có dân chủ và thị trường mạnh nhất, như Nam Hàn, Nhật, lại là những nước phải chịu khủng hoảng nặng nề nhất. Trung Quốc hầu như không xao xuyến, Việt Nam chỉ chịu chút ảnh hưởng gián tiếp do thị trường tiêu thụ trong vùng suy giảm, đầu tư giảm, giá hàng hóa trong vùng hạ thấp gây cạnh tranh với hàng xuất ngoại …

Thật ra, vì không thỏa thuận được « phát triển » là gì ? dựa trên tiêu chuẩn nào ? nên người ta đã thu hẹp khái niệm ấy vào một vài chỉ số, như tỷ lệ tăng trưởng. Cùng lúc người ta tránh né đề cập đến vấn đề « hướng đi », hay ý nghĩa, và cái giá phải trả của phát triển trên phương diện con người và môi sinh. Khoa học kỹ thuật có thể giải quyết tương đối ổn thỏa câu hỏi « làm thế nào » mỗi khi nó được đặt ra, nhưng xã hội con người lại thiếu những nỗ lực để trả lời câu hỏi « để làm gì ». Người ta đặt hết tâm trí vào « tiến bộ », « phát triển », nhưng ít đặt vấn đề tiến đến đâu, phát triển để hướng về tương lai nào ? Ví như những kẻ cố sức chạy càng lúc càng nhanh nhưng không biết chạy đi đâu, để làm gì ? Cũng như các xí nghiệp chỉ đơn thuần tìm cách làm tăng giá trị của cổ phần chứng khoán, ý nghĩa của phát triển trên bình diện xã hội dường như chỉ để làm tăng những chỉ số kinh tế, bất chấp cái giá phải trả trên các khía cạnh con người và môi sinh. Cái giá ấy là những tệ nạn mà chúng ta đã duyệt qua khi bàn đến áp lực gia tăng sản xuất ở trên, vì, trong bản chất, một xã hội thi đua phát triển dựa trên những chỉ số kinh tế, không khác gì với một xí nghiệp chạy đua sản xuất.

TÓM LẠI

Trong điều kiện hiện tại, phát triển càng nhanh thì càng chóng dẫn đến điểm rạn nứt trong tương quan giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với con người, chưa kể đến việc hủy diệt những giá trị con người của cuộc sống. Lý do nằm ở những mâu thuẫn tiềm tàng trong cặp bài trùng dân chủ - kinh tế thị trường. Trong sinh hoạt dân chủ hiện hành, sự tập trung quyền lực kinh tế đưa đến tập trung quyền lực nói chung vào tay người giàu có hay những diễn viên của họ, khiến sự tham gia của người dân giảm bớt, đưa đến đấu tranh chính trị ngoài phạm vi dân chủ, cũng như sự phát triển của những hình thái đấu tranh cực đoan sắt máu, dân tộc chủ nghĩa hay cuồng tín tôn giáo, cha đẻ của độc tài, độc đoán. Có mâu thuẫn giữa việc "người dân làm chủ", và "kinh tế làm chủ" với hậu quả là sự "làm chủ" của người dân càng ngày càng mất thực chất, trở thành hình thức. Tiến trình hiện tại của kinh tế thị trường cũng vấp phải những mâu thuẫn gắt gao. Kinh tế thị trường tạo ra thất nghiệp như một sự điều hòa cần thiết cho các xí nghiệp.Thất nghiệp tăng cũng có nghĩa là khả năng tiêu thụ giảm. Tiêu thụ giảm đưa đến thu hẹp thị trường. Thị trường tự nó thu hẹp nó. Mà thu hẹp trong cơ cấu kinh tế thị trường thì lại dẫn đến sụp đổ. Mặt khác gia tăng sản xuất là một nhu cầu sống còn của kinh tế thị trường. Càng gia tăng sản xuất thì càng chóng khánh tận tài nguyên thiên nhiên, khiến không sản xuất được nữa. Tăng sản xuất và tăng tiêu thụ cũng có nghĩa là tăng ô nhiễm. Hậu quả là giảm đời sống trong thiên nhiên, giảm đời sống của chính con người, là giảm người sản xuất, giảm người tiêu thụ ... Thị trường lại tự nó hủy diệt nó. Các nước phát triển lọt vào các vòng mâu thuẫn này mà không đủ nội lực chịu đựng có thể rơi vào suy thoái liền ngay trong những năm tháng sắp tới. Michel Camdessus, cựu chủ tịch Quỹ Tiền Tệ Thế Giới, trong một phúc trình gửi chính phủ ngày 21/10/2004, tiên đoán Pháp Quốc, một trong 10 quốc gia phát triển nhất, sẽ đi vào suy thoái không thể gượng lại được trong khoảng 10 năm nữa, nếu tiếp tục tiến trình hiện tại (vả lại, cán cân mậu dịch của Pháp đã bị thất thu từ năm nay, sau nhiều năm thặng dư). Thế còn các quốc gia đang hay "sắp" tập tành phát triển ? Chỉ cần biết rằng nếu các nước này đạt đến mức độ phát triển, sản xuất và tiêu thụ ngang hàng với Hoa Kỳ, thì chỉ trong 10 năm ngắn ngủi trái đất sẽ không còn chút tài nguyên thiên nhiên nào nữa và sẽ chết ngộp trong ô nhiễm (7). Họ hoàn toàn không có chút hy vọng nào đạt đến mức phát triển như thế và sự hiện hữu của các nước, các người nghèo đói sẽ luôn là một đe dọa cho kẻ giàu có. Và, một lúc nào đó, người ta sẽ không còn đủ đạo đức và nghị lực để cố gắng giảm thiểu SỰ NGHÈO ĐÓI nữa, mà sẽ chọn lựa con đường dễ dãi là : giảm thiểu số NGƯỜI NGHÈO ĐÓI ...

Vậy, một viễn tượng cho tương lai phải được hình dung trên căn bản đoạn tuyệt với mô hình hiện tại. Dân chủ phải vươn được lên trên những lằn ranh giới quốc gia để có thể nói chuyện ngang tay với thị trường. Mặt khác dân chủ thực thụ là người dân làm chủ quyền lực thực thụ trong xã hội, tức quyền lực kinh tế. Nền tảng giá trị của hàng hóa cũng phải được xét lại, cùng với áp lực gia tăng sản xuất. Trong điều kiện ấy, phát triển phải được quan niệm lại như sự thăng tiến của cuộc sống con người, cả về vật chất lẫn tinh thần, đồng loạt với sự bảo vệ cuộc sống thiên nhiên. Nếu viễn tượng ấy không thành sự thực, thì tương lai có nhiều rủi ro đen tối, chìm ngập trong đấu tranh sắt máu, trong độc tài, hay trong sự tàn lụi của cặp bài trùng kinh tế thị trường – dân chủ đại nghị, dưới hình thức này hay hình thức khác, kéo theo sự tàn lụi của xã hội con người. Ngày mai tươi sáng là một giả thuyết tùy thuộc khả năng làm chuyển vận trở lại cái bánh xe lịch sử đang bị bế tắc trong trường tư tưởng. Những « chân trời không thể vượt qua » của trí tuệ phải được đẩy lùi, để cuộc hành trình có thể tiếp tục, trên con đường hướng đến những giá trị Nhân Bản. Vấn đề là thúc đẩy những điều kiện thuận lợi ngay từ ngày hôm nay, ngay từ quê hương Việt Nam của chúng ta. Đó sẽ là đề tài của một bài viết khác.

NGUYỄN Hoài Vân

21 tháng 11 năm 2004

CHÚ THÍCH :

(1) Những khía cạnh hợp tác này có thể được tóm tắt qua sự kiện dân chủ và kinh tế thị trường đều được xây dựng trên nền tảng Tự Do. Thí dụ kinh tế thị trường giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào quyền hành trong những nhu cầu vật chất, giúp hình thành dân chủ, trong khi dân chủ đem lại tự do cho con người trong những quyết định liên quan đến tiêu thụ và sản xuất, hỗ trợ cho kinh tế thị trường.

(2) Một số trường hợp xoá nợ chỉ là những tính toán đem lại lợi nhuận cho các nước giàu, như trưòng hợp xóa nợ cho Irak, trong thực chất nhằm mục đích cho phép Irak được quyền vay những món nợ khác. Tiền vay được sẽ lọt vào tay các đại công ty xây cất, dầu hoả, v.v... (chưa kể các văn phòng "nghiên cứu" đủ loại) của Hoa Kỳ và vài quốc gia đồng minh.

(3) Cùng với « toàn cầu hóa », người ta vẫn thấy xuất hiện những biện pháp bảo vệ thị trường tại các nước giàu (trường hợp Hoa Kỳ với kỹ nghệ tôm cá Việt Nam), đồng thời với những nỗ lực ngăn cản việc thất thoát công ăn việc làm sang các nước nghèo, và nhất là nỗ lực ngăn chống di dân.

(4) Một chính quyền có thể nhứt thời áp dụng một chính sách rõ nét hữu khuynh hay tả khuynh, nhưng nếu nó đem lại thiệt thòi cho nền kinh tế thị trường, thì chỉ ít lâu sau đó sẽ phải tự điều chỉnh, hoặc « bị » điều chỉnh.

(5) Chúa, Phật, v.v… trở thành những món hàng. Người ta tiêu thụ Dalai Lama, Mère Theresa, v.v… trong siêu thị, giữa kem đánh răng và đồ ăn đóng hộp, trong khi nhà thờ chùa chiền phải chịu quy luật của các cơ sở thương mại : gần đây, tại Pháp, một Tòa Giám Mục phải sa thải một phần nhân viên của Giáo Phận, và một tu viện Chính Thống Giáo phải tuyên bố phá sản …

(6) Không cần đợi đến mai sau, ngay ngày hôm nay, ô nhiễm khiến cho đi bộ một ngày ở Milano tương đương với hút 15 điếu thuốc (Service de Médecine du Travail, Hôpital Sesto San Giovani - Quotidien du Médecin 27/10/2004). Tại Pháp, ô nhiễm gây 30 ngàn tử vong mỗi năm và từ 7 đến 20 % tổng số ung thư (Bulletin de l’Ordre des Médecins, Nov 2004)

(7) Hoa Kỳ có tổng sản lượng là 30 % tổng sản lượng toàn cầu, nhưng dẫn đầu trên các lãnh vực ô nhiễm và tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên.

http://perso.orange.fr/nguyen.hoai.van/DieuHat.htm

Friday, July 27, 2007

Gorbachev, một lãnh tụ ngây thơ!

Hơn 15 năm sau khi ông Gorbachev giúp phương tây dẹp bỏ Liên Bang Xô-Viết của chính người Nga, dọn đường cho chủ nghĩa đế quốc phương tây bành trướng một cách thoải mái, ông ta mới nhận ra rằng người Mỹ bị bệnh muốn làm cha thiên hạ! Nguyên văn: 'The Americans want so much to be the winners. The fact that they are sick with this illness, this winners' complex, is the main reason why everything in the world is so confused and so complicated.'

Ông Gorbachev đã tin vào bài diễn văn hoành tráng năm 1987 của tổng thống Mỹ Reagan http://usgovinfo.about.com/od/historicdocuments/a/teardownwall.htm và đem 'Tự Do' rải khắp LB XV để có 'hòa bình và thịnh vượng'. Kết quả là ông được phương tây ca ngợi nhưng lại bị chính người dân nước mình khinh bỉ vì đã dọn đường cho việc hình thành một xã hội tự do cắn xé nhau. Một số người đã trở thành nhà giàu của thế giới qua đêm vì có liên hệ tốt, còn một số lớn người khác rơi vào cảnh đói nghèo nhục nhã.

15 năm hơn sau khi LX tan rã, nước Nga mới bắt đầu trở mình gượng dậy, nhưng lại bởi bàn tay của tổng thống Putin, một tổng thống mà phương tây chê bai với lý do ông ta đàn áp 'tự do và dân chủ'. Nhưng ông này lại được sự ủng hộ mạnh mẽ trong nước! Đắc cử lần thứ hai với 71% số phiếu, đè bẹp đối thủ về nhì, Kharitonov, chỉ được 13.7% số phiếu! http://in.rediff.com/news/2004/mar/15russia.htm và vẫn tiếp tục được sự ủng hộ mạnh mẽ trong nước http://pewresearch.org/pubs/103/the-putin-popularity-score

Rõ ràng mục tiêu của Mỹ nói riêng và phương tây nói chung là một nước Nga chìm đắm trong 'tự do' nghèo đói và 'dân chủ' một cách hỗn loạn như trong thời Gorbachev và Yelsin, một nước Nga yếu đuối èo uột kinh niên là tốt nhất, sẽ không thể làm kỳ đà cản mũi cho chủ nghĩa đế quốc, để họ có thể tiếp tục bành trướng, làm cha thiên hạ mãi mãi. Họ vỗ tay ủng hộ Gorbachev, Yelsin vì hai ông này đã làm nước Nga từ một con gấu trở thành một con mèo bị nhúng nước. Họ chê bai dè bỉu chống đối Putin vì ông này đã làm nước Nga sống lại.

Ý thích và quyền lợi của họ là ngược lại với ý thích và quyền lợi của dân Nga nhưng họ lại luôn nói rằng họ muốn dân nước Nga được làm chủ!!! Cái này hơi khó hiểu đây! Có 2 khả năng:

  1. Nếu họ thực tình muốn dân Nga được làm chủ như miệng họ nói thì có nghĩa là họ muốn đi ngược lại với quyền lợi của chính họ, dùng hình tượng thì giống như họ lấy dao tự đâm vào ngực mình vậy!
  2. Họ nói láo. Khẩu hiệu 'dân chủ', 'tự do' chỉ là cái cớ. Chọc cho nước Nga loạn và suy yếu mới là mục tiêu thực sự. Tổng thống nào dẹp được loạn và làm cho nước Nga mạnh trở lại thì sẽ không được phương tây chấp nhận. Người Nga đã chìu ý họ dẹp bỏ cả một LX hùng mạnh để chấp nhận một nền 'dân chủ' nhưng họ lại vẫn chưa chịu! Vì nền 'dân chủ' đó không giống như họ muốn! Như vậy ai mới là chủ của nước Nga đây?!

Ông Gorbachev cuối cùng cũng đã hết ngây thơ và nhận thấy rõ 'lòng tốt' của chủ nghĩa đế quốc nhưng cái giá phải trả cho bài học đó là quá đắt (the hard way!). Sau đó ông đã luôn ủng hộ chính sách đối ngoại của tổng thống Putin chống lại sự chèn ép áp đặt của phương tây. Mong rằng những kẻ ngu dốt vọng ngoại ngây thơ người Việt nên mở mắt cho to ra để học hỏi (the easy way!) bài học 'tự do dân chủ' cay đắng mà ông Gorbachev và người Nga nói chung đã trải qua để cảnh giác với 'lòng tốt' của con bạch tuộc chủ nghĩa đế quốc.

Nguyên văn bản tin: http://news.yahoo.com/s/ap/20070727/ap_on_re_eu/russia_gorbachev

Gorbachev blasts American 'imperialism'

By ALEX NICHOLSON, Associated Press Writer

Photo

MOSCOW - Former President Mikhail Gorbachev said Friday that the fall of the Soviet Union, which he helped bring about, ushered in an era of U.S. imperialism responsible for many of the world's gravest problems.

Gorbachev is lauded in the West for ushering in democratic reforms but widely despised in Russia for paving the way to the economic free-for-all of the 1990s, which brought fabulous wealth for a well-connected few while plunging much of the country into humiliating poverty.

He has since became a supporter of President Vladimir Putin's assertive foreign policy and resistance to American power — calling occasional news conferences to praise Putin's policies — but his criticism of the United States on Friday was especially harsh.

"The Americans want so much to be the winners. The fact that they are sick with this illness, this winners' complex, is the main reason why everything in the world is so confused and so complicated," he told the packed news conference.

Instead of ushering in a new era of cooperation with the West, the USSR's collapse put the United States into an aggressive, empire-building mood, the former leader said. Ultimately, he said, that has led the U.S. to commit a string of "major strategic mistakes."

"The idea of a new empire, of sole leadership, was born," Gorbachev said.

"Unilateral actions and wars followed," he added, saying that Washington "ignored the Security Council, international law and the will of their own people."

Gorbachev, 76, shared Putin's strong opposition to the U.S. war in Iraq.

Russia has fallen out with Washington on a host of other issues, pushing relations to a frosty state that some commentators have likened to the Cold War.

The Kremlin says the Bush administration's plans for a missile defense system in eastern Europe to guard against Iranian and North Korean missiles could spark a new arms race. It has refused to back Washington's draft Security Council resolution on Kosovo's independence and has suspended its participation in a key treaty on arms reduction in Europe.

Gorbachev, who won the 1990 Nobel Peace Prize for his role in ending the Cold War, echoed Putin's frequent endorsement of a so-called "multipolar world," without the perceived dominance of the United States.

"No one, no single center, can today command the world. No single group of countries ... can do it," Gorbachev said. "Under the current U.S. president, I don't think we can fundamentally change the situation as it is developing now ... It is dangerous. The world is experiencing a period of growing global disarray."

Gorbachev also claimed that Putin's recent decision to suspend Russia's participation in the Conventional Forces in Europe Treaty was aimed at "encouraging" a dialogue on the amended version of the document which Russia has ratified but the United States and other NATO members have not.

He called for calm in the bitter diplomatic squabble with Britain over Russia's refusal to extradite a suspect in the radiation poisoning of former KGB agent Alexander Litvinenko. The case has seen expulsions of diplomats by both countries.

And with parliamentary and presidential elections approaching, Gorbachev bemoaned the absence of a major liberal party in Russian politics, which is dominated by the pro-Kremlin United Russia. He dismissed Russia's main opposition group, Other Russia, as only "about making a bit of noise," and riding on the star power of its leader, former chess champion Garry Kasparov.

"It's a very weak opposition," he said.