Wednesday, September 26, 2007

Trò ngậm máu phun người của Tổng Thống Mỹ

Trong một phát biểu gần đây, Tổng thống Mỹ Bush, đã nói rằng nếu quân Mỹ rút khỏi Iraq bây giờ, hậu quả sẽ giống như thời diệt chủng ở Cambodia. Tổng Thống Mỹ dưới sự chỉ đạo của một thế lực nắm quyền lực thực sự đằng sau đã từ lâu rất quen bịa chuyện lấy cớ, ăn nói ngược ngạo, ngậm máu phun người. Đe dọa người ta thì nói là bị người ta đe dọa, tấn công người ta thì nói là bị tấn công, không có cớ đánh người thì bịa ra để đánh, giết người ta thì bảo là bảo vệ, tối ngày đòi cấm vận nước này nước nọ cho dân người ta bị đói bị bệnh chết nhăn răng thì bảo là tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Tại sao Mỹ lại có thể làm được những chuyện ngược ngạo sống sượng như vậy? Bởi vì trên thế giới có rất nhiều người ngu hay thấy sang bắt quàng làm họ. Ở VN loại người này không hiếm. Họ tin những lời dối trá đãi bôi của Tổng thống Mỹ và các chính trị gia Mỹ khác như thánh vậy! Bất kể những hành động ngược ngạo của họ đã làm trong lịch sử và những chuyện đang xảy ra ngay trước mắt!

Bởi vậy những chính khách Mỹ sẽ tiếp tục mạnh dạn nói ngược, bịa chuyện để tiếp tục thực hiện những mưu đồ chính trị, quân sự tiếp theo, để tiếp tục làm cha thiên hạ, trong đó có Việt Nam.

Bài dưới đây là của một người Mỹ hiểu biết lịch sử. Ở Mỹ rất nhiều người ủng hộ chiến tranh nhưng họ chả biết gì về lịch sử đẫm máu của nước họ trên thế giới cả. Ngay cả Tổng thống Bush hiện nay là một người nổi tiếng mù tịt về lịch sử, địa lý thế giới. Ông ta cũng chỉ là một con rối trên bàn cờ chính trị của những kẻ dấu mặt đứng sau lưng ông ta.

-----------------------------------------------------------

Nói láo, nói láo và nói láo thêm nữa trong một nước Mỹ mù tịt về lịch sử

By Larry Beinhart, Posted August 25, 2007.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/larry-beinhart/lies-lies-and-more-lies_b_61810....

George Bush và những người ủng hộ Chiến tranh Iraq khác- lý luận rằng nếu chúng ta rút ra khỏi Iraq thì kết quả sẽ là những cuộc tàn sát giống như - những cách đồng giết người - ở Căm-pu-chia..

Ðây là sự thật:

. Những cánh đồng giết người là sự thật. Sự diệt chủng chống lại chính những người dân họ là do Khơ-me Ðỏ thực hiện.

. Người Việt Nam - Cộng Sản Việt Nam - là những người đã tiến vào và chấm dứt nó.

. Nước Mỹ đã hỗ trợ Khơ-me Ðỏ sau đó.

Câu chuyện đã bắt đầu như sau:

Nước Mỹ nhảy vào cuộc chiến tranh ở Việt nam trong một sự nỗ lực để giữ Nam Việt Nam không theo cộng sản. Chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra nếu cuộc tổng tuyển cử được tổ chức như được hứa hẹn.

Căm-pu-chia nằm cạnh Việt Nam. Lúc đầu dưới sự cai trị của Thái tử Sihanouk. Ông ta muốn giữ thế trung lập cho nước này. Cả hai phe (Mỹ, Việt) đều đã vi phạm sự trung lập này.

Bắc Việt gửi vũ khí, hỗ trợ và người xuyên Căm-pu-chia trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" để vòng qua bên hông lực lượng quân đội Nam Việt và Mỹ. Họ cũng dùng các hải cảng của Căm-pu-chia.

Nước Mỹ, không đánh nhau với Căm-pu-chia, chính thức và không chính thức, đã bí mật gửi quân vào Căm-pu-chia để làm gián đoạn việc sử dụng con đường đó của Bắc Việt. Ðến 1969, Nixon bắt đầu chiến dịch ném bom trải thảm nhiều vùng của Căm-pu-chia. Ðể cuối cùng khoảng 750,000 người Căm-pu-chia đã chết bởi những cuộc ném bom đó (mặc dù con số đó khó kiểm chứng đượ
c).

Nãm 1970, trong khi Sihanouk ở nước ngoài, đang viếng thãm Châu Âu, LX, và TQ, Lon Nol cướp chính quyền sau một cuộc đảo chính của cánh hữu.

Có những câu chuyện khác nhau về sự dính líu của Mỹ trong vụ này. Câu chuyện thứ nhất là chúng ta đã hỗ trợ cuộc đảo chính đó, câu chuyện thứ hai (theo cuốn sách của Tom Weiner tựa là Legacy of Ashes, The History of the CIA) là CIA và nước Mỹ bị bất ngờ trong vụ này. Tài liệu mới được giải mật gần đây ủng hộ cách nhìn của Weiner.

Trong bất cứ trường hợp nào, sau khi Lon Nol lên nắm quyền lực, Mỹ đã ủng hộ ông ta. Ðể ðáp lễ, Lon Nol chấm dứt thế trung lập, đóng các cảng biển đối với cộng sản và đòi Việt Cộng và Bắc Việt rời khỏi nước này, và để quân Mỹ hoạt động bán chính thức trên đất Căm-pu-chia.

Và Lon Nol đã phải đối mặt với những phản kháng. Xuất phát từ những phản ứng tự nhiên của tình cảm quốc gia. Và phần khác là được xúi giục bởi những phần tử cộng sản khác nhau.

Sihanouk, lúc đó đang ở Trung Quốc, đã liên kết với Khơ-me Ðỏ, những người cộng sản Căm-pu-chia, và điều này đã phong tặng cho họ tính hợp pháp mới.

Nội chiến nổ ra. Lon Nol tỏ ra yếu kém và thối nát. Nên mặc dù có sự hỗ trợ tài chính và quân đội Mỹ, ông ta vẫn thua.

Mỹ rút khỏi Việt nam vào 1973.

Khơ-me Ðỏ lấy thủ đô của Cãm-pu-chia năm 1975. Họ là một trong những chế độ kinh khủng nhất trong lịch sử. Họ thực hành một kiểu diệt chủng theo giai cấp, "cải tạo" và giết bất cứ ai được đào tạo hay tây phương hóa, cũng như những nhóm thiểu số khác.

Vào 1978, Việt Nam, khi đó hoàn toàn dưới những người Cộng sản, tiến vào Căm-pu-chia để chặn bàn tay Khơ-me Đỏ và đuổi họ ra khỏi nước này. Họ thiết lập một chế độ ôn hòa và lành mạnh hơn.

Nước Mỹ, Vương quốc Anh và Trung Quốc đã hỗ trợ những tàn dư của Khơ-me Đỏ. Với trợ giúp của họ, cuộc xung đột này đã tiếp tục thêm 10 năm nữa.

Khi nào George Bush, hay bất cứ ai khác, sử dụng sự hủy diệt hàng loạt ở Căm-pu-chia như một cảnh báo về hậu quả, những điều sẽ xảy ra nếu Mỹ rút khỏi Iraq, chúng ta hãy nhớ đến những sự thật dưới đây:

1. Một phần của sự hủy diệt hàng loạt ở Cãm-pu-chia có thể trực tiếp quy cho hậu quả của những chiến dịch ném bom của Mỹ làm 750.000 người chết. (Có thể so sánh được với số lượng những người Iraq bị giết chết bởi những lực Mỹ trong cuộc chiến tranh hiện nay).

2. Cuộc nội chiến dẫn tới chiến thắng của Khơ-me xảy ra, ít nhất một phần, là vì sự hỗ trợ của Mỹ cho Lon Nol.

3. "Kẻ thù", những người cộng sản Việt Nam, là lực lượng đã chặn đứng bàn tay của Khơ-me Đỏ.

4. Nước Mỹ hỗ trợ Khơ-me Đỏ -- sau những hành động giết người của họ, sau cuộc diệt chủng. Sự hỗ trợ đó đã giúp cuộc nội chiến tiếp tục thêm một thập niên nữa. Thêm chết chóc, thêm tàn phá.

Wednesday, September 19, 2007

THATCHER ĐÃ GIÚP POL POT NHƯ THẾ NÀO

Mỹ, Anh, Úc, TQ, Singapore, Thái lan đã ủng hộ chính trị, nuôi dưỡng, huấn luyện quân sự, cung cấp vũ khí cho tàn quân Pol Pot sau khi chúng trốn chạy về vùng biên giới Thái-Cam và đóng trên đất Thái.

Sự thật trên làm họ rất khó ăn nói trong vấn đề xét xử lãnh đạo Khơ-me Đỏ và chính là lý do chính trị làm trì hoãn việc này.

Tòa án xét xử các lãnh đạo Khơ-me Đỏ được lập ra vào năm 1997 nhưng mãi đến 10 năm sau, 2007, người đầu tiên mới bị chính thức buộc tội vì họ vẫn nắm trong tay những bằng chứng về sự liên hệ giữa họ với phương tây, TQ và các chư hầu.

Để so sánh, Mỹ tấn công Iraq năm 2003, Saddam Hussein bị bắt cuối năm đó, và đem ra tòa xử tử hình vào tháng 12/2006, trong điều kiện chiến tranh giữa nhiều phe phái đang diễn ra nhưng phiên tòa vẫn có thể tiến hành được, còn tòa xử lãnh đạo Khơ-me Đỏ cho đến năm 2007 cũng chưa nhúc nhích.

Câu chuyện này một lần nữa phô bày bộ mặt đạo đức giả của đế quốc phương tây luôn thích giảng dạy dân chủ nhân quyền nhưng lại chuyên môn có những hành động đi ngược lại lời nói.  Những chiêu bài đẹp đẽ đó chỉ được dùng để che đậy các mục đích chính trị thâm hiểm bên trong nhưng nhiều người Việt ngu dốt vẫn tin sái cả cổ.  

-------------------------------------------------------------------

THATCHER ĐÃ GIÚP POL POT NHƯ THẾ NÀO
John Pilger


http://www.newstatesman.com/politics/politics/2014/04/how-thatcher-gave-pol-pot-hand

17 tháng Tư năm nay (2000) là 25 năm từ khi Khơ-me Đỏ của Pol Pot tiến vào Phnôm-pênh. Trong lịch của sự cuồng tín, đó là Năm Số Không; khoảng hai triệu người, một phần năm dân cư của Căm-pu-chia, sẽ chết như một hệ quả của ngày hôm đó. Để đánh dấu ngày kỷ niệm này, tội ác của Pol Pot sẽ được nhắc đến, gần như một hành động mang tính nghi thức cho những người tò mò về những trò chính trị đen tối và không giải thích được.

Đối với những kẻ nắm trong tay sức mạnh phương tây, những bài học đúng sẽ không được rút ra, vì không có những kết nối nào sẽ được tạo ra cho họ và lớp tiền nhiệm, những người đã từng là đối tác kiểu Faust (nhân vật huyền thoại thời trung cổ đã bán linh hồn cho ác quỉ để đổi lấy kiến thức và sức mạnh) với Pol Pot. Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật, nếu không có sự đồng lõa của phương Tây, Năm Số Không có thể đã chưa bao giờ xảy ra, hay sự đe dọa trở lại của nó đã không được nuôi dưỡng lâu dài đến như vậy.

Những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ để lại rất ít nghi ngờ rằng việc ném bom bí mật và bất hợp pháp lên lãnh thổ Cam-pu-chia trung lập lúc đó bởi Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger từ 1969 đến 1973 đã gây ra chết chóc và tàn phá trên bình diện rộng, và nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành sức mạnh của lực lượng Pol Pot. "Họ đang sử dụng thiệt hại gây ra bởi những vụ ném bom B52 như là đề tài chính để tuyên truyền" Giám đốc hoạt động của CIA tường trình tháng 2/1973. "Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tuyển mộ thành công thanh niên. Dân chúng nói rằng chiến dịch tuyên truyền đã có hiệu quả với những người tị nạn trong những vùng là mục tiêu của B52."

Qua việc thả một khối lượng bom tương đương với năm quả bom nguyên tử ở Hiroshimas lên một cộng đồng nông dân, Nixon và Kissinger đã giết chết ước tính khoảng nửa triệu người. Năm Số Không bắt đầu, trên thực tế, là với họ (Nixon và Kissinger); việc ném bom bừa bãi trở thành chất xúc tác cho sự nổi lên của một phe phái nhỏ, Khơ-me Đỏ, với chủ trương kết hợp giữa Chủ nghĩa Mao và nếp sống thời Trung cổ mà trước đó không có sự ủng hộ trong quần chúng.

Sau hai năm rưỡi nắm quyền, Khơ-me Đỏ bị lật đổ bởi quân đội Việt Nam vào Ngày Lễ Nô-en 1978. Và những tháng năm sau đó, Mỹ cùng với Trung Quốc và những đồng minh của họ, đáng chú ý là chính quyền Thatcher (Thủ tướng Anh lúc đó), đã chống lưng cho Pol Pot đang trốn trên đất Thái. Hắn là kẻ thù của kẻ thù phương tây: Việt Nam. Công giải phóng Cam-pu-chia của nước này đã không thể được công nhận, vì họ ở bên kia chiến tuyến của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đối với người Mỹ, lúc này đang ủng hộ Bắc Kinh chống lại Moscow, có một bàn thua cần phải gỡ cho mối nhục của họ khi phải tháo chạy khỏi Sài gòn trên những mái nhà.

Về việc này, Liên Hiệp Quốc đã bị lạm dụng bởi những cường quốc. Mặc dù chính phủ Khơ-me Đỏ ("Kampuchea Dân chủ") đã không tồn tại từ tháng Giêng 1979, những người đại diện của nó vẫn được phép tiếp tục chiếm giữ chiếc ghế của Cam-pu-chia tại LHQ; Thực vậy, Mỹ, Trung Quốc và Anh đã đòi hỏi như thế. Cùng lúc đó, một lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an lên nước này đã làm tăng thêm sự khốn khổ mất mát của một đất nước đang bị tổn thương nặng nề, trong khi Khơ-me Đỏ đang lẩn trốn thì gần như muốn gì được nấy. Vào 1981, cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Zbigniew Brzezinski, nói: "Tôi động viên người Trung Hoa hỗ trợ Polpot". Nước Mỹ, ông ta thêm rằng, "nháy mắt công khai" khi Trung Quốc chuyển vũ khí cho Khơ-me Đỏ.

Sự thật là Mỹ đã bí mật tài trợ cho Pol Pot lúc đang trốn chạy từ tháng Giêng, 1980. Qui mô của sự hỗ trợ này -- 85 triệu USD từ 1980 đến 1986 -- đã được tiết lộ ra qua một bức thư gửi tới một thành viên của Ủy ban Quan hệ Nước ngoài của Thượng viện. Trên biên giới Thái Lan với Cam-pu-chia, CIA và các cơ quan tình báo khác thiết lập một cơ quan gọi là Nhóm Cứu cấp Cam-pu-chia, mà nhiệm vụ là bảo đảm hàng cứu trợ nhân đạo sẽ đến những khu của Khơ-me Đỏ trong những trại tị nạn và bên kia biên giới. Hai người Mỹ làm việc cứu trơ, Linda Mason và Roger Brown, sau đó viết "Chính phủ Mỹ nhấn mạnh rằng Khơ-me Đỏ phải được nuôi..." Mỹ thích việc nuôi cơm cho Khơ-me Đỏ đó được hưởng dưới uy tín của hoạt động cứu trợ mà cả thế giới biết đến. "Dưới sức ép Mỹ, Chương trình Thực phẩm Thế giới đã chi hơn 12 triệu USD giá trị thực phẩm cho quân đội Thái Lan để chuyển qua cho Khơ- me Đỏ; "20.000 tới 40.000 kháng chiến quân Polpot đã hưởng lợi", Richard Holbrooke, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó, viết.

Tôi đã chứng kiến điều này. Đi cùng đoàn xe của LHQ gồm 40 xe tải, Tôi đến một khu căn cứ hoạt động của Khơ-me Đỏ ở Phnom Chat. Người chỉ huy cơ sở này là Nam Phann, một người khét tiếng, được nhân viên cứu trợ biết đến với cái tên "Đồ tể" và "Himmler của Pol Pot". Sau khi hàng cung cấp đã được bốc dỡ hết, ngay dưới chân mình, ông ta nói "Cám ơn bạn rất nhiều, và chúng tôi muốn có thêm nữa".

Trong tháng mười một của năm đó, 1980, tiếp xúc trực tiếp giữa nhà Trắng và Khơ-me Đỏ đã được bố trí khi Bác sĩ Ray Cline, cựu phó giám đốc của CIA, làm một cuộc viếng thăm bí mật đến một trụ sở hoạt động chính của Khơ-me Đỏ. Lúc đó Cline là một cố vấn về chính sách đối ngoại trong nhóm chuyển tiếp của Tổng thống vừa đắc cử là Reagan.
Đến năm 1981, nhiều chính quyền trên thế giới đã trở nên rõ ràng khó chịu với trò đố chữ của LHQ đang tiếp tục công nhận cái chế độ đã chết từ lâu của Pol Pot. Cần phải làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Năm sau đó, Mỹ và Trung Quốc sáng chế ra Liên minh của Chính phủ Dân chủ Cam-pu-chia, mà thực sự không phải là một liên minh, cũng không phải dân chủ, hay là một chính phủ, hay hiện hữu trên đất Cam-pu-chia. Nó là cái mà CIA gọi là "một ảo tưởng bậc thầy". Hoàng tử Norodom Sihanouk được chỉ định làm cái đầu của nó; ngoài ra không có gì khác nhiều cả. Hai nhóm "không cộng sản", nhóm một là những người theo Sihanouk, thì được dẫn dắt bởi con trai của Hoàng tử là Norodom Ranariddh, nhóm thứ hai là Mặt trận Giải phóng Quốc gia của người Khơ-me, mà về ngoại giao và quân sự, bị khống chế bởi phe Khơ-me Đỏ. Một trong số những bạn thân của Pol Pot, Thaoun Prasith, là người điều hành văn phòng đại diện của họ tại LHQ ở New York.

Ở Bangkok, người Mỹ cung cấp cho "liên minh" này những kế hoạch tác chiến, đồng phục, tiền và tình báo từ vệ tinh; vũ khí thì đến trực tiếp từ Trung Quốc hay từ phương tây, theo đường Singapore. Phe không cộng sản đáng xấu hổ trên đã trở thành cái cớ cho phép Quốc hội -- được thúc đẩy bởi một người cuồng tín về Chiến tranh Lạnh là Stephen Solarz, một chủ tịch ủy ban có thế lực -- phê duyệt 24 triệu USD giá trị viện trợ cho "kháng chiến".

Cho đến 1989, vai trò của Anh ở Cam-pu-chia vẫn còn nằm trong bí mật. Những tường trình đầu tiên xuất hiện trên tờ Sunday Telegraph của Simon O'Dwyer- Russell, một phóng viên ngoại giao và quốc phòng có những tiếp xúc nghề nghiệp và gia đình gần gũi với SAS (lực lượng đặc biệt của Anh). Ông ta tiết lộ rằng SAS đang huấn luyện lực lượng do Pol Pot cầm đầu. Không lâu sau đó, tờ Jane's Defense Weekly lại cho biết rằng việc huấn luyện của Anh cho những thành viên "không cộng sản" của "liên minh" đó đã được thực hiện "tại những căn cứ bí mật trên đất Thái trong hơn bốn năm rồi". Huấn luyện viên được cử đến từ SAS, "Tất cả bọn họ đều là những nhân viên quân sự đang tại ngũ, cựu chiến binh của cuộc xung đột Falklands, được dẫn dắt bởi một đại úy".

Việc huấn luyện ở Cam-pu-chia đã trở thành riêng của Anh sau khi vụ "Irangate", vụ vũ khí đổi con tin, vỡ lở ra ở Washington vào năm 1986. Nếu Quốc hội biết được chuyện người Mỹ có dính dáng đến chương trình huấn luyện bí mật ở Đông Dương, chưa nói đến việc đó là huấn luyện cho lực lượng Pol Pot", một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng cho O'Dwyer- Russell cho biết, "Cái bong bóng đó chắc đã bay ngay lên. Đó là một trong những vụ dàn dựng ăn ý cổ điển giữa Thatcher và Reagan". Hơn nữa, Margaret Thatcher đã buột miệng, trước sự kinh ngạc của Bộ Ngoại giao, rằng "những người ôn hòa hơn trong lực lượng Khơ-me Đỏ sẽ phải đóng vai trò nào đó trong chính phủ tương lai".

Vào 1991, tôi phỏng vấn một thành viên của Đội "R" (đội dự bị) của SAS, một người đã từng phục vụ ở vùng biên giới. "Chúng tôi đã huấn luyện Khơ-me Đỏ về rất nhiều những nội dung kỹ thuật -- rất nhiều về mìn," anh ta nói. "Chúng tôi đã sử dụng mìn nguyên thủy đến từ Kho đạn dược Hoàng gia ở nước Anh, đi qua đường Ai-cập để đổi nhãn mác... Chúng tôi thậm chí còn huấn luyện họ về tâm lý. Lúc đầu, họ chỉ muốn đi vào làng để chém người thôi. Chúng tôi đã bảo họ cách làm sao để cảm thấy thư thái hơn..."

Bộ Ngoại giao đã phản ứng trước những thông tin này bằng cách nói láo. "Nước Anh không có một sự giúp đỡ quân sự dưới bất kỳ hình thức nào cho các đảng phái ở Cam-pu-chia", một nghị viên phát biểu. Thủ tướng Anh lúc đó, Thatcher, viết cho Neil Kinnock, "Tôi xác nhận rằng không có sự liên can nào giữa chính phủ Anh dưới bất kỳ hình thức nào tới việc huấn luyện, trang bị hay hợp tác với Khơ-me Đỏ hay những nhóm đồng minh với họ." Vào 25 tháng Sáu, 1991, sau hai năm chối quanh, chính phủ cuối cùng cũng phải thừa nhận rằng SAS đã bí mật huấn luyện "quân kháng chiến" từ 1983. Một tường trình bởi Asia Watch đã mô tả chi tiết: SAS đã dạy "cách sử dụng những thiết bị nổ tự tạo, bẫy và chế tạo, sử dụng những thiết bị kích nổ chậm". Tác giả của bản tường trình, Rae McGrath (người cùng đoạt Giải thưởng Nobel Hoà bình từ cuộc vận động quốc tế về mìn), viết trên tờ Guardian rằng "Việc huấn luyện của SAS là một chính sách phạm tội vô trách nhiệm và đê tiện".

Khi cuối cùng, một "lực lượng gìn giữ hoà bình" của LHQ cũng đã đặt chân đến ở Cam-pu-chia vào 1992, bản hiệp ước bán linh hồn cho ác quỉ đã lộ rõ ra hơn bao giờ hết. Được gọi đơn thuần nhẹ nhàng là một "thành phần trong cuộc chiến", Khơ-me Đỏ được chào đón quay trở lại Phnôm-pênh bởi viên chức của LHQ, nếu không phải là bởi người dân. Một chính khách phương tây, người đã giành công kiến tạo "tiến trình hoà bình", Gareth Evans (ngoại trưởng Úc lúc đó), lên tiếng trước bằng việc yêu cầu nên có một cách tiếp cận "vô tư" đối với Khơ-me Đỏ và đặt ra câu hỏi rằng liệu gọi việc họ làm là diệt chủng có phải đã tạo ra "một viên đá cản đường rõ ràng" không.
Khieu Samphan, thủ tướng của Pol Pot trong những năm diệt chủng, tiếp nhận dàn chào của quân đội LHQ với người chỉ huy của họ, tướng người Úc John Sanderson, đứng bên cạnh ông ta. Eric Falt, người phát ngôn của LHQ ở Cam-pu-chia, nói với tôi: "Mục tiêu của tiến trình hoà bình là cho phép [Khơ-me Đỏ] gầy dựng lại tiếng tăm."

Hệ quả của việc nhúng tay vào của LHQ là việc tách ra không chính thức ít nhất một phần tư Cam-pu-chia cho Khơ-me Đỏ (theo bản đồ quân sự của LHQ), cùng sự tiếp tục của một cuộc nội chiến âm ỉ và cuộc bầu cử của một chính phủ bị chia rẽ hết thuốc chữa giữa "hai thủ tướng" Hun Sen và Norodom Ranariddh.

Chính phủ Hun Sen kể từ sau đó đã thắng cuộc bầu cử thứ hai một cách dứt khoát. Một người độc đoán và đôi khi thô bạo, tuy vậy theo tiêu chuẩn Cam-pu-chia vẫn là ổn định lạ thường, chính phủ được dẫn dắt bởi một người bất đồng quan điểm với Khơ-me Đỏ cũ, chạy trốn sang Việt Nam từ những năm 1970, đã giải quyết xong những thoả thuận với những nhân vật lãnh đạo thời Pol Pot, đáng chú ý là nhóm ly khai của Ieng Sary, trong khi từ chối việc miễn tố những người khác.

Một khi chính phủ Phnom Penh và LHQ có thể đồng ý về một khuôn mẫu, một tòa án tội ác chiến tranh quốc tế sẽ có nhiều khả năng tiến hành. Người Mỹ không muốn có sự tham gia nhiều của người Cam-pu-chia; mối quan tâm của họ thật dễ hiểu vì không chỉ có Khơ-me Đỏ sẽ bị buộc tội.

Luật sư Cam-pu-chia bảo vệ Ta Mok, người lãnh đạo quân Khơ-me Đỏ bị bắt năm ngoái, đã nói: "Mọi người ngoại quốc liên quan phải được gọi ra trước tòa án, và sẽ không có những ngoại lệ... Madeleine Albright, Margaret Thatcher, Henry Kissinger, Jimmy Carter, Ronald Reagan và George Bush... Chúng tôi sẽ mời họ tới để nói cho thế giới biết rằng tại sao họ đã hỗ trợ cho Khơ-me Đỏ".

Đó là một nguyên lý quan trọng, mà Washington và Whitehall, hiện thời nếu đang nuôi dưỡng những tên bạo chúa tay dính đầy máu ở nơi nào đó trên thế giới, thì nên ghi nhớ lấy.

Meo dịch

Saturday, September 15, 2007

Chiến hữu hôm qua - Trùm khủng bố hôm nay


Các bạn có lấy làm lạ tại sao Mỹ rất rõ ràng về mạng lưới Al Qeada và Osama bin Laden? Vì chính CIA và cơ quan tình báo ISI của Pakistan đã đào tạo, giúp đỡ tổ chức và tài trợ, cung cấp vũ khí cho phong trào "Mujaheddin", mà Al Qeada là một phần sau này của nó. Khi những người Hồi giáo cực đoan làm một cuộc "thánh chiến" chống quân "ngoại đạo" LB Xô Viết và chính quyền Afghanistan ở thập niên 80 bằng những hành động khủng bố thì họ được Mỹ cho tiền và TT Mỹ Reagan ca ngợi là "những chiến sĩ tự do". Nhưng khi cũng chính những người này muốn đuổi lính Mỹ ra khỏi Saudi Arabia bằng những hành động tấn công lính Mỹ trong vùng những nước Hồi giáo thì họ bị Mỹ gọi là "bọn khủng bố"!
Thêm một thí dụ nữa về lối suy nghĩ của đế quốc: Thánh chiến đuổi LBXV ra khỏi đất Hồi là "anh hùng". Thánh chiến đuổi Mỹ ra khỏi đất Hồi là "khủng bố"!
'Đi đêm sẽ có ngày gặp ma'. Những mưu ma chước quỉ mà chính quyền Mỹ nghĩ ra để hại người và phục vụ những ý đồ chiến lược giữ chặt thế giới trong lòng bàn tay của đại tư bản Mỹ - Anh sẽ có ngày trở ngược lại tấn công nước Mỹ. Nhưng những người chịu hậu quả lại là dân thường và tiền thuế của họ. Họ phải nai lưng ra làm để trả nợ cho những cuộc chiến tranh, và những chiến binh đổ máu là con cái của họ chứ không phải của những nhà tư bản đã quyết định đưa họ vào những cuộc phiêu lưu quân sự đẫm máu đó.

Bài sau đây sẽ cho thấy đầu đuôi việc Mỹ giúp tạo dựng thế lực và hợp tác với tổ chức của bin Laden như thế nào. Chú ý, trong phần trích dẫn phát biểu của TT Mỹ ngay đầu bài, ông ta cũng gọi Khơ-me Đỏ là "những chiến sĩ tự do" luôn. Vì sao? Vì lúc đó Mỹ, Anh và Trung Quốc cũng đang ủng hộ Khơ-me Đỏ chống lại quân đội Việt Nam trên đất Kampuchea, SAU KHI cả thế giới đã biết được những hành động diệt chủng dã man của Khơ-me Đỏ (tôi sẽ nói đến vụ này trong bài kế).

-------------------------------------------------------------
CIA đã tạo ra Osama bin Laden như thế nào 19/9/2001
Bời Norm Dixon
"Trên khắp thế giới ... những kẻ cộng tác, chư hầu và vệ tinh của nó đang ở trong tư thế bị động --- bị động về đạo đức, bị động về trí tuệ, bị động về chính trị và kinh tế. Những phong trào tự do đã được dấy lên và tự khẳng định. Họ đang làm như vậy trên hầu hết những lục địa có người ở --- trên những ngọn đồi ở Afghanistan, ở Angola, ở Kampuchea, và ở Trung Mỹ ... [Họ là] những chiến sĩ tự do."
Đây có phải là lời kêu gọi jihad (thánh chiến) được trích ra từ một trong những fatwa (bản văn chỉ thị của tu sĩ Hồi giáo) nổi tiếng của người theo Hồi giáo giáo điều Osama bin Laden? Hay có thể là một thông điệp của chế độ áp bức của Taliban ở Kabul?
Thực ra, lời đề cao sáng giá này là cho những kẻ lạm sát hôm nay đang ủng hộ trùm khủng bố tinh quái bin Laden và những đồng phạm trong Taliban, và cuộc thánh chiến của họ chống lại "đế quốc ma quỉ", được tuyên bố bởi TT Mỹ Ronald Reagan vào 8/3/1985. "Đế quốc ma quỉ" đó là LB Xô Viết, cùng với những phong trào trong Thế giới Thứ III đánh đuổi chủ nghĩa thực dân do Mỹ chống lưng, chế độ kỳ thị chủng tộc, và độc tài.
Mọi thứ đã thay đổi đến kinh ngạc. Sau hàng loạt những vụ thảm sát do khủng bố --- vụ hèn hạ nhất là vụ giết tập thể 6000 người đang làm việc ở New York và Washington vào ngày 11/9, "chiến sĩ tự do" Bin Laden đã bị lãnh đạo Mỹ và truyền thông chính thức phương Tây đưa xuống làm "tên đầu sỏ khủng bố" và "tên làm việc cho ma quỉ".(vì bài này tác giả viết vào ngày 19/9/2001, 8 ngày sau vụ khủng bố nên con số thiệt hại nhân mạng chính thức được công bố lúc đó là 6000 người).
Chính quyền Mỹ đã từ chối không chịu nhìn nhận vai trò trung tâm của họ trong việc gầy dựng ra cái phong trào ác độc đã tạo ra bin Laden, Taliban, và đám khủng bố theo Hồi giáo giáo điều, gieo rắc tai họa ở Algeria, Egypt --- và có lẽ là cả cái thảm họa làm sụp đổ New York.
Truyền thông chính thức cũng đã phớt lờ nguồn gốc của bin Laden và nhãn hiện Hồi giáo giáo điều độc hại của ông ta.
Mujaheddin
Tháng 4, 1978, Đảng Dân Chủ Nhân Dân của Afghanistan (PDPA) cướp chính quyền ở Afghanistan. Đó là hành động phản ứng trước sự đàn áp thẳng tay của chính quyền hà khắc nước này đối với họ.
PDPA đã quyết tâm theo đuổi một chính sách cải cách ruộng đất triệt để có lợi cho nông dân, quyền lợi công đoàn, mở rộng giáo dục và dịch vụ xã hội, bình đẳng cho phụ nữ và sự tách biệt giữa tôn giáo và chính quyền. PDPA cũng ủng hộ việc tăng cường quan hệ giữa Afghanistan và LBXV.
Những chính sách như trên đã làm cho các chủ đất nửa phong kiến giàu có giận dữ, những người thuộc hệ thống tổ chức Hồi giáo (nhiều giáo sĩ cũng là chủ đất lớn), và thủ lĩnh các bộ lạc. Họ ngay lập tức bắt đầu tổ chức hoạt động chống lại những chính sách tiến bộ đó của chính quyền, dưới hình thức bảo vệ Hồi giáo.
Washington, lo sợ ảnh hưởng của LBXV lan truyền (và tệ hơn nữa là thí dụ cấp tiến của chính quyền mới) đến đồng minh của họ ở Pakistan, Iran, và những nước vùng Vịnh, nên đã ngay lập tức lên tiếng ủng hộ mujaheddin ở Afghanistan, tổ chức chống đối đã được biết đến với cái tên như vậy.
Theo sau một cuộc tranh giành quyền lực bên trong PDPA vào tháng 12/1979 đã lật đổ lãnh đạo Afghanistan, hàng ngàn quân Xô Viết đã tiến vào nước này để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền mới. Việc này càng kích động thêm cho những nhóm giáo điều ô hợp. Cuộc thánh chiến phản động bây giờ đạt được chính danh là một cuộc đấu tranh "giải phóng quốc gia" trong mắt của nhiều người Afghanistan.
LBXV cuối cùng phải rút khỏi Afghanistan năm 1989 và mujaheddin chiếm lại thủ đô Kabul năm 1992.
Từ 1978 tới 1992, chính phủ Mỹ đã đổ vào ít nhất 6 tỉ USD (có vài ước tính lên đến 20 tỉ USD) giá trị vũ khí, huấn luyện và tài trợ để đưa những nhóm mujaheddin lên. Các chính phủ phương Tây khác, cùng với Saudi Arabia, cũng đóng góp vào đó. Những người Arab cực đoan giàu có, như Osama bin Laden, cũng ủng hộ hàng triệu USD nữa.
Chính sách của Washington ở Afghanistan được thành hình bởi cố vấn an ninh quốc gia, Zbigniew Brzezinski, dười thời TT Mỹ Jimmy Carter, và được tiếp tục bởi những người kế nhiệm của ông ta. Kế hoạch của ông ta đi quá mức độ đơn giản là buộc quân Xô Viết rút lui; nó nhắm vào việc nuôi dưỡng một phong trào quốc tế làm lan rộng chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan vào những nước cộng hòa Xô Viết Hồi giáo Trung Á để làm suy yếu LBXV.
Kế hoạch vĩ đại đó của Brzezinski trùng hợp với tham vọng của nhà độc tài quân sự Pakistan, Tướng Zia ul-Haq, muốn khống chế khu vực đó. Đài Radio Liberty ở Mỹ và Radio Free Europe phát thanh những đả kích của Hồi giáo giáo điều khắp Trung Á (trong khi lại lên án "cuộc cách mạng Hồi giáo" lật đổ vương quyền Shah thân Mỹ ở Iran năm 1979).
Mujaheddin,
tổ chức được Washington yêu mến, là một trong những nhóm cực đoan nhất, cầm đầu bởi Gulbuddin Hekmatyar. Sự chán ghét của phương Tây đối với khủng bố không áp dụng cho người "chiến sĩ tự do" ghê tởm này. Hekmatyar nổi tiếng trong thập niên 70 về hành động tạt acid vào mặt của những phụ nữ từ chối không đeo mạng che mặt.
Sau khi mujaheddin lấy Kabul năm 1992, lực lượng của Hekmatyar bắn tên lửa do Mỹ cung cấp vào thành phố này --- làm chết ít nhất 2000 thường dân --- cho tới khi chính phủ mới đồng ý nhường ông ta chiếc ghế thủ tướng. Osama bin Laden là một cộng tác gần gũi với Hekyatmar và nhóm của ông ta.
Hekmatyar cũng nổi tiếng với nghề tay trái là trồng trọt và vận chuyển thuốc phiện. Sự ủng hộ mujaheddin trùng hợp với sự bùng phát buôn bán ma túy. Trong vòng hai năm, khu vực biên giới Afghanistan và Pakistan là nguồn cung cấp đơn độc lớn nhất về heroin, cung cấp cho 60% người dùng ma túy ở Mỹ.
Năm 1995, cựu chỉ huy kế hoạch ở Afghanistan của CIA đã không ân hận nói về sự bùng nổ của dòng chảy ma túy: "Nhiệm vụ chính của chúng ta là gây thiệt hại càng nhiều càng tốt cho quân Xô Viết... Có hậu quả phụ là ma túy, đúng. Nhưng mục tiêu chính đã hoàn thành. Quân Xô Viết đã rời Afghanistan."
Làm tại nước Mỹ
Theo Ahmed Rashid, một phóng viên của tờ Far Eastern Economic Review, vào năm 1986 chỉ huy CIA William Casey cam kết sự ủng hộ của CIA cho một dự án từ lâu của ISI về việc tuyển mộ người trên khắp thế giới để gia nhập jihad ở Afghanistan. Ít nhất có 100.000 người vũ trang Hồi giáo tụ tập về Pakistan từ 1982 đến 1992 (khoảng 60.000 vào học những trường giáo điều ở Pakistan mà không cần thiết tham gia đánh nhau)
John Cooley, một nhà báo từng làm việc cho hệ thống truyền hình ABC của Mỹ và tác giả của cuốn sách Unholy Wars: Afghanistan, America and International Terrorism, đã từng cho biết người Hồi giáo được tuyển mộ ở Mỹ cho mujaheddin được gửi tới Trại Peary, trại huấn luyện gián điệp của CIA ở Virginia, nơi mà thanh niên Afghanistan, Arab từ Egypt và Jordan, và ngay cả vài người Mỹ gốc Phi "người Hồi giáo da đen" được dạy "kỹ năng phá hoại".
Tờ báo Anh Independent số 1/11/1998 cho biết một trong những bị can trong vụ đánh bom tòa đại sứ Mỹ ở Kenya và Tanzania, Ali Mohammed, đã huấn luyện "đặc vụ của bin Laden" vào năm 1989.
Những "đặc vụ" này được tuyển mộ tại Trung tâm Tị nạn al Kifah ở Brooklyn, New York, được huấn luyện bán quân sự ở vùng New York và gửi tới Afghanistan với sự giúp đỡ của Mỹ để gia nhập lực lượng của Hekmatyar. Mohammed là thành viên của lực lượng tinh nhuệ Green Berets của lục quân Mỹ.
Chương trình này, theo báo Independent, nằm trong một kế hoạch được Washington chấp thuận gọi là "Chiến dịch Cyclone"
Ở Pakistan, lính mới, tiền và trang bị được chia cho những nhóm mujaheddin bởi một tổ chức với cái tên Maktab al Khidamar (Văn phòng Phục vụ — MAK).
MAK là một cơ quan thuộc chi nhánh CIA ở Pakistan, và Ban Giám đốc Liên Cục Tình báo [Inter-Service Intelligence Directorate (ISI) của Pakistan]. ISI là nơi nhận đầu tiên khối lượng rất lớn viện trợ bí mật cho lực lượng chống đối Afghanistan. Bin Laden là một trong ba người điều hành MAK. Đến 1989, ông ta nhận lãnh toàn bộ quyền kiểm soát MAK.
Trong số những người được huấn luyện bởi Mohammed có El Sayyid Nosair, người đã bị bắt giam năm 1995 vì tội giết Rabbi (giáo sĩ Do thái giáo) cánh hữu Meir Kahane và tội cùng với người khác lên kế hoạch đánh bom những công trình biểu tượng ở New York, trong đó có Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993.
Báo Independent cũng cho rằng Shiekh Omar Abdel-Rahman, một lãnh đạo tôn giáo người Ai-Cập bị giam vì vụ đánh bom Trung tâm Thương mại TG 1993, cũng là một phần tử cũ của Chiến dịch Cyclone. Ông này vào Mỹ năm 1990 với sự chấp thuận của CIA. Một báo cáo mật của CIA kết luận rằng cơ quan này "có một phần lỗi" trong vụ nổ WTC năm 1993, cũng theo tờ Independent.
Bin Laden
Osama bin Laden, một trong 20 con trai của một trùm tư bản ngành xây dựng Saudi Arabia, đến Afghanistan để tham gia jihad (thánh chiến) năm 1980. Một người theo tôn giáo cực đoan nghiêm khắc và nhà tư bản lớn, bin Laden chuyên về việc tuyển mộ, tài trợ và huấn luyện khoảng 35.000 lính đánh thuê người nước ngoài vào Afghanistan tham gia mujaheddin.
Gia đình bin Laden là một cột trụ chính của tầng lớp thống trị ở Saudi Arabia, có quan hệ gần gũi về cá nhân, tài chính, và chính trị với hoàng gia thân Mỹ ở nước đó.
Cha bin Laden là bộ trưởng trông coi công trình công cộng được chỉ định và quí mến bởi Vua Faisal. Bộ trưởng khi mới nhận việc đã giao cho chính công ty xây dựng của ông ta những hợp đồng béo bở trùng tu các đền thờ Hồi giáo quan trọng nhất ở Mecca và Medina. Trong tiến trình đó, công ty của gia đình bin Laden vào năm 1966 đã trở thành công ty xây dựng riêng (không thuộc tập đoàn, không phát hành chứng khoán) lớn nhất thế giới.
Cha của Osama bin Laden mất năm 1968. Cho đến năm 1994, ông ta vẫn có tiền chia từ lợi nhuận của đế quốc thương mại đang đi xuống đó.
(Tài sản thường được ước tính của bin Laden khoảng 200-300 triệu USD bởi Bộ Ngoại Giao Mỹ là dùng trị giá tài sản của gia đình bin Laden --- khoảng 5 tỉ USD --- chia cho số con trai của bin Laden cha. Một sự thật ít khi được nhắc đến là vào 1994, gia đình bin Laden từ Osama và giành kiểm soát phần của ông ta.)
Hoạt động quân sự và thương mại của Osama ở Afghanistan được sự phò trợ của đại gia đình bin Laden và chính quyền phản động Saudi Arabia. Quan hệ làm việc gần gũi với MAK cũng có nghĩa là CIA biết rõ những hoạt động của ông ta.
Milt Bearden, trưởng trạm của CIA ở Pakistan từ 1986 đến 1989, thừa nhận với tờ New Yorker số ra ngày 24/1/2000 rằng trong khi ông ta chưa bao giờ gặp tận mặt bin Laden, "Tôi có biết sự hiện hữu của ông ta không? Có, tôi biết ... [Người như] bin Laden lúc đó đem vào khoảng 20-25 triệu USD một tháng từ những người Saudi và Arab vùng Vịnh để tài trợ cuộc chiến. Và đó là số tiền rất lớn. Khoảng 200-300 triệu thêm cho một năm. Và đây là những việc bin Laden làm."
Năm 1986, bin Laden đem thiết bị xây dựng hạng nặng từ Saudi Arabia đến Afghanistan. Dùng kiến thức dồi dào của mình về kỹ thuật xây dựng (ông ta có bằng cấp về kỹ sư công chính), đã xây dựng những "trại huấn luyện", một số đào sâu vào sườn núi, và làm đường dẫn vào đó.
Những trại này, bây giờ được gọi là "những trường đại học khủng bố" bởi Washington, đã được xây dựng với sự hợp tác của ISI và CIA. Lực lượng kháng chiến Afghanistan, bao gồm cả hàng chục ngàn lính đánh thuê được tuyển mộ và trả lương bởi bin Laden, đã được CIA, Pakistan, Mỹ và Anh trang bị vũ khí và cung cấp huấn luyện viên quân sự.
Tom Carew, cựu quân nhân trong lực lượng đặc biệt SAS của Anh, người từng chiến đấu một cách bí mật cho mujaheddin nói với tờ báo Anh Observer, số ra ngày 13/8/2000 rằng, "Người Mỹ tỉ mỉ khi dạy người Afghanistan kỹ thuật khủng bố thành thị --- đánh bom bằng xe và v.v...--- để họ có thể đánh người Nga ở trong những phố thị chính ... Nhiều người trong số họ bây giờ đã dùng những kiến thức và chuyên môn đó để gây chiến tranh với bất cứ những gì họ ghét.
Al Qaeda (cái Căn cứ), tổ chức của bin Laden, được thành lập vào 1987-88 để điều hành các trại và những cộng việc làm ăn khác. Nó là một công ty cổ phần tư bản điều hành chặt chẽ --- mặc dù nó kết hợp những hoạt động của một lực lượng lính đánh thuê và những dịch vụ hỗ trợ có liên quan với những hoạt động thương mại "chính đáng".
Sau khi quân Xô Viết rút lui, bin Laden vẫn tiếp tục làm những công việc mà ông ta đã làm trong thời những năm 1980 --- tài trợ, nuôi dưỡng và huấn luyện lính đánh thuê. Cái khác biệt là khách hàng của ông ta không còn là ISI, đứng sau lưng là CIA, mà là chính quyền phản động Taliban.
Bin Laden chỉ trở thành một "tên khủng bố" trong mắt của Mỹ khi ông ta không đồng thuận với hoàng gia Saudi Arabia về việc họ cho phép hơn 540.000 lính Mỹ đóng quân trên đất Saudi theo sau cuộc xâm lược của Iraq vào Kuwait.
Sau khi Cuộc chiến vùng Vịnh đó kết thúc, hàng ngàn quân Mỹ đã không rời khỏi Saudi Arabia, sự tức giận của bin Laden trở thành việc chống đối ra mặt. Ông ta tuyên bố rằng Saudi Arabia và những chế độ khác --- như là Egypt --- trong vùng Trung Đông là bù nhìn của Mỹ, cũng giống như chính quyền PDPA của Afghanistan đã từng là bù nhìn của LBXV.
Ông ta kêu gọi lật đổ những chế độ chư hầu đó và tuyên bố trách nhiệm của toàn thể người Hồi giáo là đuổi Mỹ ra khỏi những quốc gia vùng Vịnh. Năm 1994, ông ta bị tước quốc tịch Saudi và buộc phải rời khỏi nước này. Tài sản của ông ta ở đó bị đóng băng.
Sau một thời gian ở Sudan, ông ta trở lại Afghanistan vào tháng 5/1996. Ông ta cho sữa chữa lại những trại mình đã giúp xây dựng trong thời chiến tranh với Nga và muốn đóng góp cơ sở, dịch vụ, và hàng ngàn lính đánh thuê cho lực lượng Taliban, nhóm lên nắm chính quyền vào tháng 9.
Hôm nay, quân đội riêng của bin Laden, gồm những người ngoài quốc tịch Afghanistan theo tôn giáo cực đoan, là một cột trụ chính của chế độ Taliban(vào thời điểm tác giả viết bài này).
Trước cuộc tấn công thảm khốc 11/9 vào tháp đôi của WTC, giới lãnh đạo Mỹ vẫn không tỏ ra hối hận gì về hậu quả của những giao dịch bẩn thỉu của họ với loại như bin Laden, Hekmatyar, và lực lượng Taliban. Từ sau cuộc tấn công tệ hại đó, họ lại tỏ ra hết sức là đạo đức giả.
Trong một báo cáo ngày 28/8/1998, được đăng tải trên đài MSNBC, Michael Moran trích lời Thượng nghị sĩ Orrin Hatch, một thành viên cao cấp của Ủy ban Tình báo Thượng viện, nơi đã chấp thuận những giao dịch với mujaheddin, nói rằng ông ta sẽ "quyết định giống như vậy một lần nữa", ngay cả khi biết rằng bin Laden sẽ trở thành như vậy.
"Nó đáng như vậy. Đó là những việc làm rất quan trọng, then chốt đã đóng một vai trò quan trọng trong sự sụp đổ của LBXV."
Ông Hatch hôm nay là một trong những tiếng nói hăng hái nhất đòi trả thù quân sự.
Một bộ mặt khác thường xuất hiện trên TV sau vụ tấn công là Vincent Cannistrano, được giới thiệu là một cựu chỉ huy CIA chuyên trách về "những hoạt động chống khủng bố".
Cannistrano dĩ nhiên là một chuyên gia về những nhân vật khủng bố như bin Laden, bởi vì ông ta đã từng chỉ đạo "công việc" của họ. Ông ta đã từng dẫn dắt lực lượng kháng chiến Nicaragua hậu thuẫn bởi CIA những năm đầu thập niên 1980. Vào 1984, ông ta trở thành người giám sát viện trợ bí mật của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa kỳ cho mujaheddin Afghanistan.
Lời cuối của Zbigniew Brzezinski: "Chuyện gì quan trọng hơn trong cách nhìn của thế giới về lịch sử? Taliban hay là sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết? Một vài bất ổn từ người Hồi giáo hay sự giải phóng Trung Âu và kết thúc Chiến tranh Lạnh?"
----------------------------------------------------------
Nguyên văn: http://www.greenleft.org.au/2001/465/25199

Friday, September 7, 2007

Chống khủng bố phải bắt đầu từ nhà mình!

Các bạn có bao giờ tự hỏi rằng tại sao những láng giềng cùng châu lục với Mỹ cũng thường hay biểu tình chống Mỹ? Tại sao thời VN đánh Mỹ có du kích Venezuela bắt sĩ quan Mỹ để đòi trao đổi mạng với anh Nguyễn Văn Trỗi? Bài sau đây sẽ một phần lý giải tại sao láng giềng Mỹ Latin có "tình cảm đặc biệt" đó đối với chính quyền Mỹ.
"School Of Americas", tạm dịch là "Trường của các nước Châu Mỹ", cái tên nghe thật là vô tội! Nhưng thực chất nó là gì? Mời bà con xem bài này để biết thêm về những hoạt động "ban bố dân chủ" của Hoa Kỳ trong vùng châu lục của họ. Kể từ sự kiện 11/9/2001 đến nay, chính quyền Mỹ luôn ra rả kêu gọi thế giới ủng hộ "Cuộc Chiến Chống Khủng Bố", và gây ra cuộc chiến ở Iraq làm chết hàng trăm ngàn người (theo họ) cũng là vì muốn chống vài tên khủng bố. Thêm vào đó, Mỹ tự cho mình cái quyền chỉ tay buộc tội những nước khác là "ủng hộ khủng bố". Nhưng chính ngay trên nước Mỹ từ lâu đã có một ngôi trường với cái tên hết sức ngây thơ là "School Of Americas" mà mục đích thực sự của nó là đào tạo ra những tên khủng bố.
Để giữ Trung và Nam Mỹ trong vòng kiểm soát, Mỹ phải dập tắt những phong trào độc lập, dân chủ ở vùng này. Để thực hiện được điều này, Mỹ đã lập một trường huấn luyện những quân nhân-sát thủ chuyên nghiệp và gởi về bản xứ để giết những người chống đối ở nước họ, bảo vệ những chế độ độc tài thân Mỹ.
Nói về khủng bố, Bin Laden chưa đáng làm học trò của những chính khách Mỹ ăn trắng mặc trơn và chuyên môn mở miệng là dạy đời thế giới về "tự do, dân chủ, nhân quyền"!
Chú ý: Khi thấy dấu (?!?) là dấu của tôi chứ 0 phải của tác giả. Đó là chỗ tôi nhịn cười không nổi!
-------------------------------------------------------------
Thế Chiến II là một "cuộc chiến tốt". Sau cuộc xung đột đó, phần lớn người Mỹ tin rằng những mục tiêu của Mỹ trên thế giới là cao thượng - Mỹ là người trừng phạt những kẻ hung hăng và một chiến sĩ cho tự do(?!?). Hình ảnh này đã trở thành mẫu mực cho nhiều thế hệ người Mỹ để đánh giá nước họ trong những việc xảy ra trên thế giới. Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cái ảo tưởng là nước Mỹ luôn ở bên "phía lẽ phải". Ngày nay, hình ảnh nước Mỹ là người bảo vệ của dân chủ và công lý càng bị xói mòn thêm bởi cái "School of Americas" (SOA), nơi huấn luyện sĩ quan quân sự và binh lính Mỹ Latin và Caribbean để phá vỡ dân chủ và giết chết hy vọng trong chính nước họ.
Thành lập bởi Hoa Kỳ vào 1946, SOA lúc đầu ở Panama, nhưng vào 1984, nó bị đá ra theo những điều khoản của Hiệp Ước Kênh Đào Panama và di chuyển tới căn cứ lục quân ở Fort Benning, Georgia, Mỹ. Tổng Thống Panama lúc đó là Jorge Illueca gọi nó là "căn cứ lớn nhất cho sự bất ổn ở Mỹ Latin", và một tờ báo lớn của Panama đã tặng cho nó cái tên "Trường của những Sát Thủ Chính Trị".
Hôm nay, huấn luyện viên và học viên của SOA được tuyển mộ từ thành phần xuất sắc nhất của lực lượng quân sự các nước Mỹ Latin. Trường huấn luyện 700-2000 lính một năm, và từ ngày bắt đầu vào 1946, hơn 60.000 quân nhân đã tốt nghiệp từ SOA.
Nếu SOA tập trung vào huấn luyện việc bảo vệ biên giới quốc gia chống lại ngoại xâm hay bảo vệ người dân khỏi sự xâm lược bởi kẻ thù bên ngoài, thì nó có thể đuợc cho là một cơ quan gương mẫu, đáng giá cho những đồng tiền thuế của người Mỹ và uy tín nước Mỹ. Nhưng, SOA có những mục đích rất khác biệt. Giáo trình của nó bao gồm những cua về chiến tranh tâm lý, chống chiến tranh du kích, kỹ thuật tra hỏi, và chiến thuật bộ binh và biệt kích. Được trình bày với những kỹ thuật tối tân và cập nhật nhất bởi những huấn luyện viên giỏi nhất của Lục Quân Mỹ, những cua này dạy sĩ quan và binh lính của các nước TG Thứ III cách loại bỏ sự thật, bịt miệng những lãnh đạo hội đoàn, nhà hoạt động tôn giáo, nhà báo, và gây chiến tranh với chính dân họ. Nó chuẩn bị họ cho việc đàn áp tiếng nói chống đối và buộc người biểu tình phải chịu thua. Nó huấn luyện họ kỹ thuật loại người nghèo đói, và bị mất mát ra khỏi xã hội. Nó dạy họ cách dập tắt tự do và khủng bố chính người dân của họ. Nó huấn luyện họ phá hủy hy vọng cho dân chủ.
Trường của Các Nước Châu Mỹ đã được tặng nhiều tên khác nhau - "Trường cho những Độc Tài", "Trường của những Sát Thủ Chính Trị", và "Nhà Trẻ của những Nhóm Hành Quyết". Và, những nước có hồ sơ nhân quyền tệ hại nhất gởi nhiều lính nhất tới trường này.
Quốc gia / Tốt nghiệp (từ 1946)
Argentina / 931
Bolivia / 4.049
Brazil / 355
Chile / 2.405
Colombia / 8679
Costa Rica / 2.376
Dominican Republic / 2.330
Ecuador / 2.356
El Salvador / 6.776
Guatemala / 1.676
Honduras / 3.691
Nicaragua / 4.693
Panama / 4.235
Paraguay / 1,084
Peru / 3.997
Uruguay / 931
Venezuela / 3,250
Khi họ trở về nước nhà, học viên tốt nghiệp của SOA có một cái nhìn khác biệt và kỳ cục về người nước họ. Họ xem tu sĩ, người làm việc xã hội, nhà báo, và trí thức cấp tiến, không phải là tài sản của xã hội, mà là những thành phần phá hoại nguy hiểm, đang làm việc chống lại cái hệ thống đang bảo đảm vị trí quyền lực của binh lính, sĩ quan, và những nhà bảo trợ của họ.
Học viên tốt nghiệp của SOA đã từng là những kẻ bạo ngược nặng tay đàn áp nhất ở Mỹ Latin, với những hành động dã man và bạo lực nhất. Ở El Salvador, vào 1989, một đội tuần tiễu Salvador hành quyết sáu tu sĩ Jesuit khi họ nằm úp mặt trên xuống đất ở Đại Học Trung Mỹ. Theo Báo Cáo Ủy Ban Sự Thật của Liên Hiệp Quốc về El Salvador năm 1993, 19 trên tổng số 26 nhân viên tham gia vụ hành quyết này đã được huấn luyện ở SOA.
Vào 1990, ở El Salvador, người có nhiều ủng hộ, Tổng Giám Mục Oscar Romero bị ám sát. Ba phần tư nhân viên Salvador bị nghi ngờ trong vụ giết người này đã được huấn luyện ở SOA. Roberto D'Aubuison, người lãnh đạo sau này của Đội Hành Quyết El Salvador, bị ám chỉ có tham gia kế hoạch ám sát TGM Romero. Ông ta cũng đã góp phần trong nhiều vụ giết người khác, bao gồm một vụ thảm sát ở làng El Mazote, nơi mà hơn 900 đàn ông, phụ nữ, và trẻ em đã bị giết. Ông này cũng tốt nghiệp ở SOA.
Thống kê của Ủy Ban Sự Thật của LHQ cho thấy qui mô vai trò của trường SOA ở El Salvador.
Vụ ám sát TGM Romero có 3 nhân viên bị cáo buộc - 2 người tốt nghiệp SOA
Giết một số sơ người Mỹ có 5 nhân viên bị cáo buộc - 3 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở El Junquillo có 3 nhân viên bị cáo buộc - 2 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở El Mazote có 12 nhân viên bị cáo buộc - 10 người tốt nghiệp SOA
Vụ giết nhà báo Hà Lan có 1 nhân viên bị cáo buộc - ông ta là một người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở Las Hojas có 6 nhân viên bị cáo buộc - 3 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát ở San Sebastian có 7 nhân viên bị cáo buộc - 6 người tốt nghiệp SOA
Thảm sát tu sĩ Jesuit có 26 nhân viên bị cáo buộc - 19 người tốt nghiệp SOA
Ở những nước Mỹ Latin khác, học viên tốt nghiệp SOA cũng là những kẻ thù nổi bật của nhân quyền. Cựu độc tài Omar Torrijos của Panama, Guillermo Rodriguez của Ecuador, và Juan Velasco Alvarado của Peru, tất cả đều đã lật đổ những chính phủ được đắc cử theo hiến pháp nước họ. Leopoldo Galtieri, cựu lãnh đạo của nhóm hành chính quân đội của Argentina bị thua trong Chiến Tranh Falklands (cuộc chiến với Anh giành một quần đảo gần Argentina), là người chịu trách nhiệm cho hàng ngàn công dân bị "biến mất"- những người ủng hộ tự do và dân chủ ở Argentina, và đã cái giá cao nhất là mạng sống của họ. Ông ta là một học viên tốt nghiệp ở SOA.
Ở Honduras, Tướng Humberto Ragalado Hernandez, được huấn luyện ở SOA vào cùng thời gian ông ta được nghi ngờ dính dáng với những trùm ma túy Colombia, và những nhân viên cao cấp nhất trong Đội Hành Quyết Honduras cũng là những người được huấn luyện ở SOA.
Ở Peru, nhân viên cao cấp nhất bị kết án về vụ giết chín sinh viên đại học và một giáo sư vào tháng 2, 1994, là người tốt nghiệp ở SOA.
Ở Colombia, một tòa án nhân quyền năm 1992 kiện 246 nhân viên về tội ác chống lại nhân dân Colombia. 105 trong số đó đã được huấn luyện ở SOA.
Ở Panama, cựu độc tài Manuel Noriega, từng làm việc cho CIA, tốt nghiệp từ SOA. Ông ta đang ở tù Mỹ, tội buôn ma túy.
Ở Guatemala, một nước có 10 triệu dân, người bản xứ da đỏ Mayan với dân số 6 triệu đã chịu đựng sự đau thương lớn nhất ở Mỹ Latin. Trong hơn 30 năm nội chiến, hàng chục ngàn người đã bị giết hại, với tổng số dự đoán hơn 200.000 người. Phần lớn những tướng lãnh có dính dáng đến nhiều vụ đảo chính và hành động khủng bố, giết người trong giai đoạn này đã được huấn luyện ở SOA.
Vào thập niên 1970 và đầu 1980, ở Guatemala, hàng ngàn nhà hoạt động chính trị và đối kháng với đường lối của chính phủ đã bị ám sát. Tướng Manuel Antonio Callejas y Callejas, Chỉ Huy Tình Báo Quân Đội lúc đó, đã bị LHQ tố cáo là cá nhân chịu trách nhiệm cho đại đa số những vụ giết người này. Ông này tốt nghiệp ở SOA. Một trong những tên bạo chúa dữ dằn nhất trong lịch sử gần đây ở Guatemala là Jose Efrain Rios Montt. Là một viên tướng, nhà độc tài, và cựu tổng thống từ 1982-83, Rios Montt tự hào với triết lý chính trị của ông ta: "đậu cho những kẻ nghe lời; đầu đạn cho đám còn lại" ("beans for the obedient; bullets for the rest"). Ông ta cũng tốt nghiệp từ SOA.
Tác động của học viên tốt nghiệp SOA trên tự do của vùng Mỹ Latin thật khủng khiếp. Được trang bị với huấn luyện tinh vi, vũ khí hiện đại, kỹ thuật cập nhật về điều khiển và theo dõi, tốt nghiệp của SOA đã khủng bố người dân của chính nước họ qua một thế hệ.
Nhân danh người dân Mỹ và dùng tiền thuế của người Mỹ, Hoa Kỳ, nước dân chủ nhất(?!?), đã qua nhiều thập niên huấn luyện ra những lãnh đạo phản dân chủ nhất trên thế giới. Chính quyền lên án khủng bố trên thế giới, đã khuyến khích những tên khủng bố ngay trong nhà mình - ở SOA.
Nước ta, trong nhiều thế hệ, là ngọn đèn dẫn đường cho tự do và dân chủ trên thế giới (?!?), không nên góp phần đàn áp dân chủ và giết chết hy vọng ở nước khác (?!?). Người Mỹ lên án khủng bố quốc tế nên lên án cùng mạnh mẽ như vậy việc huấn luyện những tên khủng bố cho Thế Giới Thứ III bởi nước Mỹ. Đây là thời điểm mà chúng ta phải đòi hỏi đóng cửa School of the Americas.
------------------------------------------------------------
Nguyên văn:


School of the Americas:
School of Assassins, USA

The School of the Americas

http://www.thirdworldtraveler.com/Terrorism/SOA.html


World War II was the "good war". After that conflict, most Americans believed that US intentions in the world were noble -- the US was the punisher of aggression and a warrior for freedom. This image was for generations of Americans the measure by which they judged their country in world affairs. The war in Vietnam ended the illusion that America was always on the "right side". Today, America's image as a defender of democracy and justice has been further eroded by the School of the Americas (SOA), which trains Latin American and Caribbean military officers and soldiers to subvert democracy and kill hope in their own countries.

Founded by the United States in 1946, the SOA was initially located in Panama, but in 1984 it was kicked out under the terms of the Panama Canal Treaty and moved to the army base at Fort Benning, Georgia. Then-President of Panama Jorge Illueca called it "the biggest base for de-stabilization in Latin America," and a major Panamanian newspaper dubbed it " The School of Assassins."

Today, SOA instructors and students are recruited from the cream of the Latin American military establishment. The School trains 700-2,000 soldiers a year, and since its inception in 1946, more than 60,000 military personnel have graduated from the SOA.

If the SOA concentrated its training on protecting country borders from foreign aggression or safeguarding citizens from invasion by outside enemies, it would be considered an exemplary institution, worth the cost of American tax dollars and US prestige. But, the SOA has very different goals. Its curriculum includes courses in psychological warfare, counterinsurgency, interrogation techniques, and infantry and commando tactics. Presented with the most sophisticated and up-to-date techniques by the US Army's best instructors, these courses teach military officers and soldiers of Third World countries to subvert the truth, to muzzle union leaders, activist clergy, and journalists, and to make war on their own people. It prepares them to subdue the voices of dissent and to make protesters submit. It instructs them in techniques of marginalizing the poor, the hungry, and the dispossessed. It tells them how to stamp out freedom and terrorize their own citizens. It trains them to destroy the hope of democracy.

The School of the Americas (SOA) has been given other names -- "School for Dictators", "School of Assassins", and "Nursery of Death Squads". And, countries with the worst human rights records send the most soldiers to the School.

Countries / Graduates (since 1946)

Argentina / 931
Bolivia / 4,049
Brazil / 355
Chile / 2,405
Colombia / 8,679
Costa Rica / 2,376
Dominican Republic / 2,330
Ecuador / 2,356
El Salvador / 6,776
Guatemala / 1,676
Honduras / 3,691
Nicaragua / 4,693
Panama / 4,235
Paraguay / 1,084
Peru / 3,997
Uruguay / 931
Venezuela / 3,250

When they return to their home countries, graduates of the SOA hold a rather unique and peculiar view of their countrymen. They look upon priests, social workers, journalists, and liberal intellectuals, not as assets to their societies, but as dangerous subversives, working to undermine the system that keeps these soldiers, army officers, and their sponsors in power.

Graduates of the SOA have been among the most repressive tyrants in Latin America, and their actions have been some of the most cruel and violent. In El Salvador, in 1989, a Salvadoran army patrol executed six Jesuit priests as they lay face-down on the ground at Central America University. According to the United Nation's Truth Commission Report on El Salvador in 1993, 19 of the 27 officers who took part in the executions were trained at the SOA.

In 1990, in El Salvador, populist Archbishop Oscar Romero was assassinated. Three-quarters of the Salvadoran officers implicated in the killing were trained at the SOA. Roberto D'Aubuison, the late leader of El Salvador's Death Squad, was implicated in the plot to assassinate Archbishop Romero. He also participated in numerous murders, including a massacre in the village of El Mazote, where more than 900 men, women, and children were killed. He graduated from SOA as well.

The U.N. Truth Commission's statistics reveal the extent of the School's murderous role in El Salvador .


Romero assassination 3 officers cited --- 2 were SOA graduates
Murder of US nuns 5 officers cited --- 3 were SOA graduates
Union leader murders 3 officers cited --- 3 were SOA graduates
El Junquillo massacre 3 officers cited --- 2 were SOA graduates
El Mazote massacre 12 officers cited --- 10 were SOA graduates
Dutch journalist murders 1 officer cited --- he was an SOA graduate
Las Hojas massacre 6 officers cited --- 3 were SOA graduates
San Sebastian massacre 7 officers cited --- 6 were SOA graduates
Jesuit massacre 26 officers cited --- 19 were SOA graduates

In other Latin American countries, graduates of the SOA have been equally prominent enemies of human rights. Former dictators Omar Torrijos of Panama, Guillermo Rodriguez of Ecuador, and Juan Velasco Alvarado of Peru, all overthrew constitutionally elected governments in their countries. Leopoldo Galtieri, the former head of the Argentina junta defeated in the Falklands War, was responsible for thousands of "disappeared" citizens who supported freedom and democracy in Argentina, and paid the ultimate price with their lives. He was an SOA graduate.

In Honduras, General Humberto Ragalado Hernandez, was trained at the SOA at the same time that he was linked to Columbian drug cartels, and the highest ranking officers in the Honduran Death Squad were trained at SOA as well.

In Peru, the most senior officers convicted of the February 1994 murder of nine university students and a professor, were graduates of the SOA. In Columbia, a 1992 human rights tribunal cited 246 officers for crimes against the people of Columbia. 105 of the officers were trained at the SOA. In Panama, ex-dictator Manuel Noriega, formerly on the CIA payroll, graduated from the SOA. He is now in a US prison, convicted of trafficking in drugs.

In Guatemala, a country of 10 million, the indigenous Mayan population of 6 million have endured the greatest suffering in Latin America. During more than 30 years of civil war, tens-of-thousands have been slaughtered, with the total killed estimated to exceed 200,000. Most of the ranking generals involved in the numerous coups and acts of terror and murder during this period were trained at the SOA.

In the 1970s and early 1980s, in Guatemala, thousands of political activists and opponents of government policies were assassinated. General Manuel Antonio Callejas y Callejas, Chief of Army Intelligence at the time, was cited by the UN as the individual responsible for most of those murders. He graduated from the SOA. One of the most vicious tyrants in recent Guatemalan history is Jose Efrain Rios Montt. General, dictator, and a former president from 1982-83, Rios Montt was proud of his political philosophy of "beans for the obedient; bullets for the rest". He was also a graduate of the SOA.

The impact of SOA graduates on Latin American freedom has been devastating. Armed with sophisticated training, modern weapons, and up-to-date techniques of control and surveillance, graduates of the SOA have terrorized their own countrymen for a generation.

In the name of its citizens and using American taxpayer dollars, the United States, the most-democratic of countries, has for decades been training some of the most anti-democratic leaders in the world. Administrations that have decried terrorism abroad, have encouraged terrorists right here at home -- at the SOA.

Our country, for generations, a beacon of liberty and democracy to the world, should play no part in subverting democracy and killing hope in other countries. Americans who condemn world terror should condemn just as strongly America's training of Third World terrorists. It is time for all of us to demand that the School of the Americas be closed.


What you can do


Call, fax, or write the President, and your Senators and Representative. Ask them to end funding for the SOA and stop training terrorists and murderers in America.

Ask them to support House of Representatives Bill -- HR 2652 -- introduced by Representative Joseph Kennedy (D-MA). This bill would close the School of the Americas and establish in its place an Academy for Democracy and Civil-Military Relations, to identify the proper role of the military in a democratic society and bring about civilian control over military matters in Latin America.

Father Roy Bourgeois founded SOA Watch to inform the American public about " the School of Assassins" and to close it down. But, he cannot do it alone. He needs the support of all Americans who abhor the training of terrorists and murderers in this country. Support SOA Watch and Father Roy Bourgeois at:

SOA Watch
PO Box 3330
Columbus, GA 31903
706-682-5369


Foreign Policy and Pentagon

Terrorism watch

School of the Americas Watch

Tuesday, August 28, 2007

Trần Chung Ngọc - Phần II - Tản Mạn Xung Quanh Vụ Tố Khổ Ông Nguyễn Cao Kỳ

Ông Kỳ nói không sai về sự ổn định và kỷ luật trong xã hội, về tầng lớp trung lưu. Thực ra, ông ta chỉ nhắc lại ý kiến của của một số người có tầm vóc quốc tế, thí dụ như Thủ Tướng Lý Quang Diệu, Giáo sư Samuel P. Huntington, Bình luận gia của tờ Newsweek Fareed Zakaria, giáo sư kinh tế Guido Tabellini tại Đại học Bocconi v..v… Quan niệm của những người trên là, tầng lớp trung lưu đông đảo là xương sống của một nền dân chủ. Vậy làm sao tạo được lớp người đó? Chúng ta hãy đọc ý kiến của Thủ Tướng Lý Quang Diệu:

Khi được Jim Rohwer, Kinh tế Gia Chính về Á Châu và là Giám Đốc của văn phòng hãng CS First Boston ở Hồng Kông, hỏi: "Dân Chủ giúp, hay làm chướng ngại, hay không liên quan gì đến mức độ tiến nhanh như thế nào của các quốc gia Á Châu? (Is being a democracy a help, a hindrance, or irrelevant to how fast Asian countries can go?) Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã trả lời:

Nếu ông ở trong một xã hội nông nghiệp, tôi cho rằng dân chủ không làm cho xã hội tiến nhanh. Hãy coi Nam Hàn, Nhật, và Đài Loan. Trong những giai đoạn đầu họ cần đến, và đã có kỷ luật, trật tự, và sự cố gắng. [Chúng ta nên nhớ, Nam Hàn và Đài Loan, những quốc gia không có chiến tranh, không có hận thù nội bộ, cũng phải ở dưới chế độ độc tài quân phiệt trong 30 năm, từ 1950 đến 1980, rồi mới tiến tới dân chủ, nhưng cũng không phải là dân chủ Mỹ.] Họ phải tạo ra sự thặng dư về nông sản để bắt đầu làm cho mặt kỹ nghệ tiến. Không có chế độ quân phiệt, hay độc tài, hay chính phủ độc đoán ở Nam Hàn và Đài Loan, tôi không nghĩ rằng các quốc gia này có thể chuyển đổi mau như vậy.

Trái lại, hãy coi Phi Luật Tân. Họ có dân chủ để tiến từ năm 1945. Họ chưa bao giờ tiến được bước nào; xã hội quá hỗn loạn. Nó trở thành một trò chơi trong phòng khách – ai lên cầm quyền, ai chiếm hữu được cái gì

. [Đầu thập niên 1950, Phi Luật Tân, 95% theo Ca Tô Giáo, theo chế độ Dân Chủ Ca Tô (Catholic Democracy), nghĩa là dân chủ tuân theo sắc lệnh của giáo hoàng, được Mỹ giúp cho kinh tế Phi Luật Tân lên cao, nhiều ngàn phụ nữ Hồng Kông đổ sang Phi Luật Tân làm đầy tớ; 40 năm sau, tình trạng đổi ngược, trên 100,000 (một trăm ngàn) phụ nữ Phi Luật Tân đi làm đầy tớ cho dân Hồng Kông. [Jim Rohwer, p. 61]] Hay hãy coi Ấn Độ và Tích Lan. Trong 3 kỳ bầu cử sau khi độc lập, họ đi qua cơ chế của dân chủ. Nhưng thiếu kỷ luật làm cho sự tiến bộ chậm chạp và lờ phờ. [Điều này rất đúng nếu chúng ta so sánh Nga sô và Trung Quốc sau 1989: Nga sô vội vã lao đầu vào dân chủ hóa nên Sô Viết Liên Bang trở thành Sô Viết Tan Hoang, và bây giờ Putin lại trở lại độc tài để cứu vãn. Trong khi Trung Quốc độc tài, đẩy mạnh kinh tế rất thành công, trở thành một đối trọng ngang ngửa với Mỹ, và bây giờ hình thức dân chủ đã hiện ra ở nhiều mặt, nếu chúng ta có dịp đi Trung Quốc và quan sát. Có vẻ như Việt Nam cũng đi theo con đường này nhưng chậm chạp hơn vì nhiều vấn nạn xã hội và hậu quả kéo dài của cuộc chiến]

Nhưng một khi ông tiến tới một trình độ tiến bộ kỹ nghệ nào đó, ông đã có một lực lượng lao động có học, một dân số thành thị, ông có những quản trị viên và kỹ sư. Rồi ông phải có sự tham dự của họ, vì họ là những người có học, có lý trí. Nếu ông cứ tiếp tục với một hệ thống độc đoán, ông sẽ vấp phải mọi thứ đình trệ. Ông phải nghĩ ra một hệ thống đại diện nào đó.

Điều này sẽ làm cho sự tiến tới giai đoạn trở thành kỹ nghệ hóa một cách dễ dàng. Rồi ông có thể bắt đầu một xã hội công dân, với những người họp thành từng nhóm: chuyên gia, kỹ sư v..v.. Hầu như đột nhiên, những nhóm này sẽ được thành lập, vì là những người có học, có tầm nhìn thế giới rộng rãi hơn, sẽ kéo những người cùng trình độ đến với nhau. Chỉ như vậy ông mới có thể bắt đầu cái mà tôi gọi là hạ tầng cơ sở dân chủ. [Như vậy mà cũng chỉ là mới bắt đầu hạ tầng cơ sở dân chủ thôi]

[Jim Rohwer, Asia Rising: Why America Will Prosper as Asia’s Economies Boom, Simon & Schuster, N.Y., 1995, p. 329: I would say that democracy is not conductive to rapid growth when you are in an agricultural society. Take Korea, Japan, Taiwan. In their early stages they needed and had discipline, order, and effort. They must create that agricultural surplus to get their industrial sector going. Without military rule or dictatorship or authoritarian government in Korea and Taiwan, I doubt whether they could have transformed themselves so quickly.

As against that, take the Philippines. They had democracy from the word go in 1945. They never got going, it was too chaotic. It became a parlor game – who takes power, then who gets what spoils. Or take India and Ceulon. For the first three elections after independence, they went through the mechanics of democracy. But the lack od discipline made growth slow and sluggish.

But once you reach a certain level of industrial progress, you’ve got an educated workforce, an urban population, you have managers and engineers. Then you must have participation, because these are educated, rational people. If you carry on with an authoritarian system, you will run into all kinds of logjams. You must devise some representative system.

That will ease the next stage to become industrialized. Then you may get the beginnings of a civic society, with people forming their own groups: professionals, engineers etc... Almost spontaneously, these will form, because being educated, knowing the wider world, will bring like-minded people together. Then only do you have the beginnings of what I would call an active grassroots democracy.]

Trong cuốn Asia Rising.., Jim Rohwer cũng đã đưa ra nhận xét sau:

"Sau khi sống vài năm ở Á Châu, tôi thấy rằng cái hố ngăn cách lớn nhất giữa giới trí thức Tây Phương và Á Châu là về vấn đề dân chủ. Ở Tây phương, dân chủ được coi như là chế độ chính quyền duy nhất mà một quốc gia văn minh phải theo... Trái lại, nhiều tư tưởng gia sống ở Á Châu cũng xét đến ý tưởng dân chủ nhưng lý luận mạnh mẽ là, một loại chủ thuyết độc đoán nào đó thì tốt hơn là dân chủ tự do và vô trách nhiệm. Điều này thật là dễ hiểu. Ở Á Châu ngày nay, chính phủ độc đoán thường không đưa đến sự gian khổ và chiến tranh mà là hòa bình, thịnh vượng, và bình đẳng."

[Jim Rohwer, Ibid., pp. 322-323: I realized after living in Asia for a few years that probably the world’s biggest intellectual gulf among highly educated people lay between Westerners and Asians on the subject of democracy. In the West democracy is generally thought to be the only form of government by which a civilized society should consider running itself....By contrast, many thoughtful people living in Asia are open to the idea, and sometimes argue it vigorously, that a certain kind of authoritarianism is better than a freewheeling democracy. This is understandable. In modern Asia, authoritarian government has often brought not hardship and war but instead peace, prosperity, and equality.]

Như vậy, tôi tự hỏi tại sao Mỹ và những người hùa theo Mỹ vẫn cứ muốn áp đặt quan niệm về dân chủ của Mỹ vào Á Châu. Mỹ đã muốn áp đặt dân chủ của Mỹ ở Iraq bằng súng đạn. Dân chủ là một trong những chiêu bài dùng để thuyết phục quốc hội chấp thuận tấn công Iraq, ngoài những tin tức tình báo ngụy tạo là Iraq có liên hệ với Bin Laden và có vũ khí giết người hàng loạt, nhưng hiển nhiên đã thất bại và Iraq đã tan hoang vì bom đạn Mỹ và phản ứng dùng bom tự sát của của dân Iraq chống xâm lăng Mỹ. Những "nhà dân chủ" không có đầu óc hay sao mà vẫn cứ coi quan niệm dân chủ của Mỹ như là khuôn vàng thước ngọc cần phải cấy vào đồng ruộng Việt Nam?

Trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới [The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order, Simon & Schuster, NY, 1996], Giáo sư Samuel P. Huntington cũng đưa ra nhận định:

"Nếu dân chủ có tới thêm với các quốc gia ở Á Châu, đó là vì các giới tiểu tư sản và trung lưu càng ngày càng mạnh trong các quốc gia đó muốn như vậy."

(If democracy comes to additional Asian countries it will come because the increasingly strong Asian bourgeoisies and middle classes want it to come).

Thủ Tướng Lý Quang Diệu thì ai cũng biết, nhưng Giáo sư Samuel P. Huntington là ai? Ông ta là một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập san Foreign Affairs. Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ.

Và trong bài "Dân Chủ Đến Sau" [Democracy Comes Second], Giáo sư Kinh Tế Guido Teballini có viết:

Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ những bài học lịch sử. Cải cách chính trị có cơ may thành công nếu trước đó cải cách kinh tế đã thành công... Cho phép tự do bầu cử và tự do ứng cử tuy rất quan trọng, nhưng những biện pháp này chỉ nên theo sau, chứ không phải đi trước, cải cách kinh tế.

Đó là quan niệm về một tiến trình dân chủ của những người mà khả năng và uy tín trên thế giới khó ai có thể phủ nhận, qua những bài học và kinh nghiệm lịch sử trong bộ kiến thức của họ. Điểm những khuôn mặt dân chủ ở hải ngoại, hiếm thấy một bộ mặt nào ra hồn có đủ uy tín và hiểu biết, hiếm thấy khuôn mặt nào có đầy đủ sự lương thiện trí thức [qua phản ứng trước vụ án Nguyễn Văn Lý], và hầu như chỉ dùng chiêu bài tự do, dân chủ để chống Cộng kiểu những con bò rừng húc đầu vào lá cờ đỏ. Còn những "bộ mặt dân chủ" ở trong nước như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân v..v.. thì hầu hết thuộc thế lực đen, Công giáo và Tin Lành, làm tay sai cho ngoại nhân hay nhận tiền từ nước ngoài để chống phá Việt Nam.

Nếu những hành động hung hăng côn đồ và những lời lẽ ngỗ nghịch thóa mạ trong Tòa của Nguyễn Văn Lý, mà giới truyền thông hải ngoại khai thác tấm hình, đồng thanh lên tiếng cho đó là "bịt miệng tiếng nói dân chủ", thì tôi nghĩ rằng cái loại dân chủ này nên để cho những tổ chức, hội đoàn chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa ở hải ngoại dùng với nhau, chứ không thể nhập cảng vào Việt Nam được.

Việt Nam không bao giờ có thể chấp nhận những "tiếng nói dân chủ" như vậy, hay chấp nhận những "tiếng nói dân chủ" của những tay sai ngoại bang, được ngoại bang huấn luyện về "dân chủ", lãnh tiền của ngoại bang hay của những thế lực chống phá Việt Nam từ ngoài, theo sách lược xuất cảng dân chủ của Mỹ, trong khi Mỹ có một hồ sơ khủng khiếp nhất về vi phạm nhân quyền và tự do của con người trên thế giới. Trước những hành động như trên của Nguyễn Văn Lý, một người khoác trên vai "thiên chức linh mục", tôi tự hỏi quảng đại quần chúng Việt Nam ngày nay đã ý thức được thế nào là tự do, dân chủ trong tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp chưa? Và câu hỏi này cũng cần phải đặt cho những tổ chức, hội đoàn, báo chí chống Cộng ở hải ngoại. Tại sao?

Vì ở Cali, họ đang thực hiện "nền dân chủ Nguyễn Văn Lý trong Tòa" trong chiến dịch chống phá VietWeekly. Thật vậy, nhìn những hành động hung hăng, những biểu ngữ v..v.. trong đám người biểu tình, chúng ta thấy rõ "ý thức dân chủ Nguyễn Văn Lý" của những người biểu tình chống đối để "bịt miệng" VietWeekly. Đó mới là những hành động "bịt miệng" thực sự. Nên để ý rằng trước đó, trong Bản Lên Tiếng Về Lập Trường Thân Cộng Của Tuần Báo Việt Weeky, đại đa số những cá nhân và tổ chức ký tên là…CÔNG GIÁO:

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, nhà báo Nguyễn Xuân Tùng (Diễn Đàn Kitô-hữu, Nguyệt San Chính Việt), bác sĩ Trần Văn Cảo (Chủ Nhiệm Diễn Đàn Giáo Dân), nhà báo Trần Phong Vũ (Chủ Bút Diễn Đàn Giáo Dân [DĐGD]), ký giả Trần Nguyên Thao (DĐGD), giáo sư Phạm Tất Hanh (TTK Diễn Đàn Giáo Dân), cựu đốc sự Cao Viết LợI (Chủ Tỉch Phong Trào Giáo Dân Nam Cali), kỹ sư Đỗ Như Điện (Điều Hợp Viện Phong Trào Giáo Dân hải Ngoại), tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng (Phong Trào Giáo Dân), cựu giáo sư Đỗ Anh Tài (Phong Trào giáo Dân), nhà thơ Hà Thượng Nhân, nhà báo Phạm Bá Cát (DĐGD), nguyên nghị sĩ Trần Tấn Toan (Diễn Đàn Kitô-hữu), cựu Thiếu tướng Lý Tòng Bá (Chủ Tịch VNCH Foundation), Tiến sĩ Nguyễn Tiến Ích (DĐGD), Bà Hoàng Dược Thảo (Chủ Nhiệm Tuần Báo Saigon Nhỏ), cựu giáo sư Lê Tinh Thông (DĐGD), nhà văn Hoàng Quý, Bà Trần thanh Hiền (Tiếng Nói Giáo Dân), Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh (Công giáo) v..v..

Nếu GS Nguyễn Xuân Vinh có đủ can đảm đứng ra giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại [sic] mà không biết ngượng thì Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng có dư can đảm để nhảy lên bàn độc diễn vai trò công tố viên trong một tòa án nhân dân để tố khổ VietWeekly và cũng không biết ngượng. Vì sao? Vì Nguyễn Chí Thiện là người nổi tiếng với hai câu thơ bất hủ trong bài Đồng Lầy, tương đương với câu "Thà mất nước chẳng thà mất Chúa" của Linh mục Hoàng Quỳnh, chỉ cần thay chữ "Chúa" bằng cụm từ "Thực dân Pháp". Hai câu đó như sau:

"Ôi thằng Tây mà khi xưa người dân tốn bao xương máu đánh đuổi.
Nay người dân xao xuyến luyến tiếc [thằng Tây] vô chừng."

Vì cái hận cá nhân, đưa tư tưởng phản bội dân tộc, luyến tiếc thực dân của chính mình vào làm tư tưởng của toàn dân, phủ nhận và mạ lỵ công ơn của toàn dân đã tốn bao xương máu để giành lại độc lập cho đất nước, tôi nghĩ hai mươi mấy năm ông Nguyễn Chí Thiện nằm ngâm vè cho muỗi và rệp nghe kể cũng đáng.

Về vụ chống VietWeekly, có một đoạn trong bài Bẫy Sập Tự Giăng của Dốc Thượng có thể cho chúng ta thấy đại khái nội vụ:

"Sau đó, họ tổ chức người đi đánh phá các địa điểm bán báo của Việt Weekly, gọi điện thoại hăm dọa các thân chủ quảng cáo, và quyết định biểu tình trước trụ sở Việt Weekly. Họ dự tính gây phiền toái khu phố cho đến khi nào chủ phố phải "đuổi" Việt Weekly đi.

"

Người đứng đằng sau xúi giục cho vụ này lại là một cơ quan truyền thông, tờ nhật báo Người Việt. Tờ báo này chỉ đăng tin một chiều, họ cho đăng thật nhiều những bài viết đánh phá Việt Weekly, nhưng không cho đăng một bài viết bênh vực Việt Weekly, mặc dầu có độc giả gởi vô.

Giới truyền thông Mỹ sẽ hỏi có thể tưởng tượng ra một cách đơn giản là, tại sao các anh biểu tình? Ban tổ chức biểu tình sẽ mạnh mẽ trả lời, tại vì Việt Weekly là cộng sản. Câu hỏi tiếp theo, tại sao Việt Weekly là cộng sản? Tại vì họ cho đăng bài Hà Văn Thùy, phỏng vấn Nguyễn Minh Triết. Thế còn các ý kiến chống cộng cũng được đăng trên Việt Weekly như Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đạt, Amy Dương, Nguyễn Hữu Chánh, Đỗ Hoàng Điềm, Vi Anh, và nhiều người khác nữa thì sao?

Đến lúc này, ban tổ chức biểu tình sẽ lúng túng. Không lẽ, lúc đó họ trả lời đại, "nhưng mà chúng tôi không chấp nhận đăng tải một ý kiến nào từ phía Việt Nam cả". Ơ kìa, các anh đang sống ở Mỹ hay đang sống ở một xứ độc tài nào vậy?

Bởi vậy ông Hồ Văn Xuân Nhi đã đặt câu hỏi: Phải chăng "Biểu Tình Tẩy Chay Việt Weekly: Động cơ là ân oán cá nhân, chống cộng quá khích và cạnh tranh nghề nghiệp bất chính?" Hết chuyện VietWeekly, nay trở lại chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ.

Ngay từ hồi còn học Chu Văn An ở Hà Nội, và sau này ở miền Nam, tôi đã không thích cái tính cao-bồi của ông Kỳ. Nhưng qua sự cố này, cái tính cao-bồi của ông ấy không phải là không có chỗ dùng được. Ông ấy đã đạp lên những sự chống đối để tiếp tục đi trên con đường mình chọn, giống như một đoàn lử hành, thản nhiên đi qua, không hề để tâm đến những tiếng ồn ào bên đường. Ông ấy đã có những nhận định sâu sắc về tình thế, về sự phát triển và cải tiến trên mọi mặt ở Việt Nam, do đó ông ấy đã bỏ lại đàng sau quá khứ có thể nói là huy hoàng của mình để có một tầm nhìn xa hơn về tương lai dân tộc và đất nước. Ông ấy đã can đảm nói thẳng về thực chất các chế độ ở miền Nam khi xưa, tuy ông ấy đã giữ những chức vụ cao cấp nhất trong những chế độ ấy. Ông ấy cũng phê bình không khoan nhượng, ngay giữa trung tâm chống Cộng ồn ào ở Cali, thực chất thiểu số chống Cộng ở ngoài nước. Ông ấy cũng đã không nể nang gì khi phê bình một số dân biểu Mỹ, để kiếm phiếu của người tị nạn, đã xuyên tạc tình hình về tôn giáo ở Việt Nam v..v... Những điều ông ấy làm, không phải ai làm cũng được. Và vì vậy, tôi không thể nói gì hơn là tôi rất cảm phục sự thay đổi tư duy, hướng về đại khối dân tộc, và những hành động can đảm của ông. Tôi cũng tin rằng, ông không phải là một "cao-bồi" đơn độc trong chiều hướng này.

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn trích dẫn quan niệm của một người ngoại quốc, Johannjs, đối với dân chống Cộng ở hải ngoại.

Nếu những người nào "thù ghét những người Cộng sản vì những gì họ đã làm", vậy thì họ hãy nên thù ghét những người còn tự cho mình là "người quốc gia", xét rằng họ đã giúp những kẻ xâm lăng tàn bạo để diệt chủng dân tộc họ… Và ai là những kẻ xâm lăng tàn bạo?

Về vấn đề này, không còn phải bàn cãi gì nữa: những người ở đây đều hiểu ai là những kẻ ngoại xâm tàn bạo. Đừng toan tính lật ngược tình thế, cho rằng đó là những người Việt Nam xâm lăng chính quốc gia của họ. Không một người nào có đầu óc lô-gic, Bắc, Nam, sẽ tin được điều này. Ngay chính những kẻ xâm lăng cũng đã thừa nhận là họ chẳng có nhiệm vụ gì ở miền đất xa xôi đó.

Vì có những người

[chống Cộng] như các người, người Việt hải ngoại đã nổi tiếng là những kẻ "nói láo đến cực điểm" và những kẻ "vô liêm sỉ, nói láo một cách tuyệt đối bệnh hoạn"

Có bao nhiêu tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh đã được lập ra để xử những người Cộng sản Việt Nam? Không có một cái nào! Có bao nhiêu tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh đã được lập ra để xử nước Mỹ [tự cho là] có quá đạo đức tôn giáo? Có rất nhiều.. Và đây là một sự thật..

[If anyone should "hate the communists for what they have done", then they should hate even more those who still pretend to be "nationalists", whereas they helped brutal invaders to genocide their people... And who are the brutal invaders?

Concerning his question, it was no question: every body here understands who were the brutal foreign invaders. Don't pretend to reverse the situation, into that of the Vietnamese invading their own country! Nobody with a logical mind will listen to that, North, South. Even the invaders themselves have admitted they had nothing to do in that far away land.

Because of people of your kind, the Vietnamese abroad have gained that reputation of being all "fieffés menteurs" and "mythomanes"

(unashamed and absolute pathological liars). How many international war crime tribunals were set against the Vietnamese "communists"? none. How many international war crime tribunals were set against the so religiously moralist United States of America? many... and that's a simple fact. [This post has been edited by Johannjs: Nov 30, 2004, 12:53 PM ]

Và sau cùng, chúng ta đã biết, Bác Sĩ Allen Hassan, một Bác sĩ đã phục vụ tại Việt Nam, đã viết cuốn "Failure To Atone" mà bản dịch tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ dịch là "Không Thể Chuộc Lỗi" (Đúng ra là "tội", tội ác chứ không phải "lỗi", lỗi lầm) nói về một số tội ác của quân đội Mỹ ở Việt Nam (Xin xem toàn bản dịch ở http://www.sachhiem.net/SACHNGOAI/KhongtheChL.php ). Trước những núi tội ác của Mỹ đối với Việt Nam, Bác sĩ Allen Assen cho rằng: "Bây giờ dù bất cứ làm việc gì, nước Mỹ cũng không thể chuộc lại tội của mình đối với người dân Việt Nam." Nhưng tại sao Mỹ, với những tội ác rất nghiêm trọng phạm ở Việt Nam, lại không có cả một lời xin lỗi. Chúng ta có thể đọc những ý kiến sau đây của cựu Tổng Thống Bill Clinton trên Internet.

25 năm sau chiến tranh chấm dứt, khi được hỏi ông ta có nghĩ rằng Mỹ nợ Việt Nam một lời xin lỗi, ông Clinton đã trả lời, đơn giản là, "Không, tôi không nghĩ như vậy" [Tại sao?], Vì:

- Xin lỗi về những tội ác chống dân Việt Nam có nghĩa là thừa nhận những điều chúng ta nói với nhau về cách ứng xử của chúng ta trong thế giới – khi đó cũng như bây giờ - là điều nói láo.

- Xin lỗi là thừa nhận rằng trong khi chúng ta tuyên bố là bảo vệ dân chủ, chúng ta lại đi trật ra ngoài dân chủ. Trong khi chúng ta tuyên bố rằng chúng ta đang bảo vệ Nam Việt Nam, thì chúng ta lại tấn công người dân Nam Việt Nam.

- Chúng ta đã thả 6 triệu rưỡi tấn bom và 400 ngàn tấn Napalm trên dân tộc ở Đông Nam Á. Bỏ bom tràn trề những vùng dân sự, những chương trình chống khủng bố và ám sát chính trị, thường xuyên giết người dân thường và dùng gần 45 triệu lít chất độc da cam để phá hủy mùa màng và mầu mỡ đất đai – tất cả đều là một phần của cuộc chiến tranh khủng bố của Mỹ ở Việt Nam, cũng như ở Lào và Cambod.

( When asked if he thought the United States owed the people of Vietnam an apology, 25 years after the end of the war, Clinton said, simply, "No, I don't."
[...] To apologize for crimes against the people of Vietnam would be to admit that the stories we tell ourselves about our conduct in the world -- then and now -- are a lie.
[…] To apologize would be to acknowledge that while we claimed to be defending democracy, we were derailing democracy. While we claimed to be defending South Vietnam, we were attacking the people of South Vietnam.
[...] we dropped 6.5 million tons of bombs and 400,000 tons of napalm on the people of Southeast Asia. Saturation bombing of civilian areas, counterterrorism programs and political assassination, routine killings of civilians and 11.2 million gallons of Agent Orange to destroy crops and ground cover -- all were part of the U.S. terror war in Vietnam, as well as Laos and Cambodia.)

Những tài liệu trên, cũng như hàng trăm tài liệu hiện hữu khác về chiến tranh Việt Nam của chính người Mỹ mà tác giả gồm các tướng lãnh, chính trị gia, giáo sư đại học v..v.., đã nói lên những sự thật về chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến đã chấm dứt cách đây hơn 32 năm rồi. Và ngày nay, dù những sự thật đó có mang lại nhiều cay đắng cho người Việt Quốc Gia chúng ta, với tất cả sự lương thiện trí thức, chúng ta phải chấp nhận chúng, vì đơn giản chúng chỉ là sự thật. Và từ đó, hi vọng mỗi người trong chúng ta, nếu còn nghĩ đến quê hương đất nước, sẽ tìm ra được một con đường hợp lý hơn để góp phần xây dựng đất nước.

Trần Chung Ngọc - Phần I - Tản Mạn Xung Quanh Vụ Tố Khổ Ông Nguyễn Cao Kỳ

Trong khi tôi dịch tiếp những chuyện về bàn tay lông lá của Mỹ xin mời các bạn đọc một bài rất hay của bác Trần Chung Ngọc.

http://giaodiemonline.com/2007/08/caoky.htm

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TẢN MẠN XUNG QUANH VỤ TỐ KHỔ ÔNG NGUYỄN CAO KỲ:
BẠN ĐỒNG KHÓA NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ BẠN
Trần Chung Ngọc

Tôi và ông Nguyễn Cao Kỳ vốn là bạn đồng khóa, khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, nhưng chỉ là trên danh nghĩa, chứ chưa bao giờ là bạn. Tuy là bạn đồng khóa nhưng tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông Kỳ. Sau khi ra trường, chỉ có một lần thấy ông trong một cuộc họp Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan ở trong Tân Sơn Nhất, và một lần khác loáng thoáng thấy ông trong cuộc họp Cựu Sĩ Quan Trừ Bị Khóa I, Nam Định và Thủ Đức, cách đây vài năm ở Cali. Ngoài ra, chỉ thấy hình ông trên báo chí, TV. Hồi còn ở Việt Nam, tôi biết ông Kỳ làm lớn, nhưng tính của tôi lại rất kỵ các quan lớn, cho nên cũng chẳng bao giờ lân la đến làm quen, dù tôi có quen vài người bạn thân của ông Kỳ, thí dụ như Phạm Dung [cùng đơn vị, cùng đóng đồn Tuy Lộc ở Hạt Lệ Thủy, miền Trung], và Phó Quốc Chụ [thường đấu Ping Pong nhưng bao giờ tôi cũng thua]. Vì vậy, chắc chắn là ông Kỳ không biết tôi là ai, nhưng không sao, tôi "biết" ông là đủ rồi.

Tôi viết bài này là vì tình bạn đồng khóa, nhưng không phải là bạn, vì tôi chưa từng là bạn, và cũng không có ý định làm bạn với ông Kỳ. Sở dĩ tôi phải viết lên bài này là vì những vụ việc xảy ra xung quanh những chuyến ông về nước vào dịp Tết Giáp Thân 2004, một chuyến khác sau đó 2 năm, và gần đây ông đã bay từ Việt Nam về Mỹ để đón tiếp ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết công du Mỹ, trong những dịp này ông đã đưa ra một số ý kiến cá nhân về Việt Nam. Do đó ông đã bị cả một chiến dịch mạ lỵ, chống đối, nhiều khi rất hạ cấp, ở hải ngoại. Tôi muốn chia xẻ vài ý kiến về việc này để ông thấy rằng đa số thầm lặng tuy không lên tiếng nhưng không hẳn là đồng ý với những hành động hung hăng chống đối ông chỉ vì ông đã vượt họ một khoảng khá dài về tình người và tình tự dân tộc..

Rất có thể tôi không đồng ý với vài điểm nào đó trước những ý kiến của ông về Việt Nam nhưng tôi hoàn toàn tôn trọng quyền tự do phát biểu ý kiến đó của ông, và bài viết này có mục đích bày tỏ sự tôn trọng quyền đó. Nếu tôi không đồng ý với ông ở điểm nào đó, tôi sẽ phân tích vấn đề và nêu rõ ý kiến của tôi là tại sao tôi không đồng ý. Nhưng tôi không thể, và không có quyền, lên án ông hay chụp lên đầu ông bất cứ một nhãn hiệu nào thuộc loại "tố Cộng" của thời Ngô Đình Diệm, cũng như tôi không thể nào dùng những lời lẽ hạ cấp để mạ lỵ cá nhân ông chỉ vì tôi không đồng ý với ông.. Đó không phải là phong cách ứng xử của người trí thức, đúng nghĩa là một trí thức, trong tinh thần đối thoại nghiêm chỉnh. Đây là bài học rất sơ đẳng về nhân quyền, tự do, và dân chủ cho những người nào thực sự muốn tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ. Và tôi mong những người chống đối những việc làm của ông cũng nên bắt đầu học bài học sơ đẳng này càng sớm càng tốt. Việc học hành để tăng gia hiểu biết và trở thành văn minh hơn có thể nói là điều cần thiết cho tất cả mọi người.

Nhưng có vẻ như những người chống đối ông, tuy sống ở trên những đất nước tự do nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ biết đến câu: "Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy." (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it), mà theo một tác giả trên Internet, thực ra là của Beatrice Hall, bí danh là S.G. Tallentyre, nói năm 1907, câu mà người ta thường lầm lẫn cho là của Voltaire. [???] Họ không hiểu được nội dụng của điều này chính là căn bản của tự do và dân chủ. Thay vì bảo vệ quyền của ông Kỳ nói những gì ông ấy muốn nói, có vẻ như, qua văn phong của một số người chống đối, họ muốn ăn tươi nuốt sống ông Kỳ nếu họ có thể.

Tuy cái mũ Cộng Sản đã rách bươm từ lâu, nhưng một số người ngày nay vẫn còn sử dụng nó như là một vũ khí với niềm hoang tưởng rằng nó có một tác dụng gì trong giới hiểu biết, hoặc có thể gây thêm hận thù trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Cái mũ "Cộng Sản" đã được sử dụng như là một vũ khí để giữ độc quyền ăn nói và bịt miệng những người không đồng quan điểm với mình, nhưng càng ngày càng trở nên lố bịch vì ngày nay mọi người đều coi nó như một trò hề chính trị của những kẻ hạ căn, ít giáo dục, cho nên không gây nên một tác dụng nào. Những lời lẽ rất hạ cấp mà thực ra không thích hợp và không nên đăng trên bất cứ một diễn đàn truyền thông nào đáng gọi là diễn đàn truyền thông, để mạ lỵ và hạ thấp cá nhân ông, đã quật ngược lại các tác giả, chứng tỏ tư cách của họ không đáng để ai phải quan tâm. Cho nên ông Kỳ không nên để tâm vào những hạng người này mà nên thương hại họ, vì họ có một kẻ thù lớn nằm vùng trong chính bản thân họ, đúng như lời Đức Phật đã dạy: "Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình". Qua những việc ông làm, bất kể với mục đích gì, tôi cũng mừng cho ông đã thành công xua đuổi được kẻ thù lớn của chính mình : kẻ thù lớn đó là lòng thù hận Quốc-Cộng của nhiều năm về trước.

Lẽ dĩ nhiên tôi không có lý do gì để phản đối lập trường "nghĩ tới tương lai dân tộc" của ông cả, vì tôi rất đồng ý với ông là, cuộc chiến Quốc-Cộng đã chấm dứt cách đây trên 30 năm rồi, và tôi cũng không có lý do gì để truyền lại cho con cháu, làm ô nhiễm, đầu độc đầu óc của chúng bằng những thù hận của lớp người như tôi và ông mà tôi biết rõ do nghịch cảnh lịch sử gây ra. Đối với tôi, tất cả những chức vụ của ông trước đây ở miền Nam: Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Tư Lệnh Không Quân, Thủ Tướng, Phó Tổng Thống v..v.. cũng đã chấm dứt với mốc lịch sử 30/4/75. Cho nên tôi không nghĩ ông là đại diện cho bất cứ ai, cho bất cứ đơn vị, tổ chức, hội đoàn nào, vì tất cả đều đã tan hàng, chẳng còn cái gì để mà đại diện. Những tổ chức, hội đoàn v..v.. hiện nay ở hải ngoại, mang những tên vang bóng một thời, với những tên đầu cơ chính trị khoác lên mình những chức vụ như chủ tịch, đại diện v..v.., thực chất chỉ là những cái vỏ che đậy niềm cay đắng của một thiểu số đứng trước thực tế lịch sử nhưng lại không đủ can đảm để chấp nhận nó như là thực tế lịch sử. Tôi không có viết chơi, vì thực chất những tổ chức, hội đoàn này đã được Quỳnh Thi mô tả trong bài "Vài Kinh Nghiệm Về Chiến Tranh VN" trên Đàn Chim Việt như sau:

Trong những ngày lễ hội ở đây, như ngày "Quốc hận 30/4", ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ngày kỷ niệm thành lập binh chủng này, binh chủng nọ… người ta thấy những bộ đồ lính rằn ri của lính "Nhẩy dù", "Thủy quân Lục chiến", "Sinh viên sĩ quan" Đà Lạt, Thủ Đức hay "Hải quân", được nhiều người lính già mặc vào như để cổ võ chiến tranh? Có phải họ nuối tiếc những ngày "oanh liệt", "vàng son" một thời đã qua? Hay họ cay đắng vì cuộc chiến tranh mà họ nghĩ rằng, họ có thể giành được chiến thắng, nhưng vì người Mỹ đã phản bội, bức tử để miền Nam thất thủ, rơi vào tay cộng sản?

[Chắc lớp người này đã quên đi những hình ảnh "tháo chạy" (từ của Nguyễn Tiến Hưng) từ Cao Nguyên, từ Vùng I Chiến Thuật, và trong khi tháo chạy quân đội đã làm gì với những người dân, cùng cảnh quân trang quân dụng vứt đầy xa lộ Biên Hòa. Hồ sơ và hình ảnh còn đó. Nhiều hình ảnh về cuộc tháo chạy này chúng ta có thể thấy trên trang nhà nhandanvietnam.org, trong bài "Những Hình Ảnh Tháo Chạy….", tháng 7, 2007]

… Cuộc chiến đã quá tang thương. Hàng triệu người chết, xác người đã chất thành núi, máu chảy thành sông... Vợ mất chồng, con mất cha, người thân thất lạc Bắc Nam, nhà cửa đổ nát bị thiêu rụi vì bom đạn chiến tranh cày xới, làng xã tan hoang, nhân tâm chai cứng. Cuộc chiến tranh hơn hai mươi năm đã quá dài, quá đẫm máu, cần phải chấm dứt.

Tôi chưa hề nghe thấy những tiếng kêu như thế cất lên ở đây. Mà tôi chỉ nghe thấy những lời ai oán căm hờn, sắt máu, nhồi nhét vào đầu óc lớp trẻ (trên đài TV STBN Dallas), trong những ngày lễ hội vừa qua. [Tôi cho rằng đây là điều tệ hại nhất của một số người trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đã đầu độc đầu óc của lớp trẻ qua hành động vô trí: truyền lại những mối hận cá nhân của lớp trước cho lớp sau]

Chúng ta đã thua, và một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng ở hải ngoại,

chống Cộng vì những mất mát cá nhân về quyền thế, về tôn giáo, hay tài sản, hay người thân v..v.., nói chung, với lý do chúng ta là "nạn nhân của Cộng Sản". Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi: "Thế nạn nhân của Mỹ và của phía Quốc Gia thì sao?" Ai có can đảm trả lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết khoảng 300,000 người vô tội trong chính sách "tố Cộng", cộng với những thảm bom trải từ B52, vùng oanh kích tự do, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai v..v.. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền Bắc gấp mấy lần của miền Nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh, những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không, và những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ không? Họ có quyền thù hận chúng ta không?

Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Những người chống Cộng chỉ đưa ra những luận điệu một chiều để chứng minh chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi và không bao giờ nhắc đến những hành động đối với dân, với kẻ thù, của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ mà CS cũng phải chào thua. Nhưng cũng may là sự thù hận này phần lớn chỉ có một chiều, tập trung trong một thiểu số ở hải ngoại mà đa số trong đó thuộc thế lực đen, một thế lực đã nổi tiếng trong dân gian, mà lịch sử đã ghi rõ, là "mất gốc" và "hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc", đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại nhưng thiếu khả năng, thiếu trí tuệ và giáo dục, nên chỉ có thể đưa ra những hành động và lời lẽ chống Cộng phi lý làm nhục lây đến cả cộng đồng người Việt di cư. Ở Việt Nam, chúng ta không thể kiếm đâu ra một sự thù hận dai dẳng và dễ kích động như ở hải ngoại. Chúng ta đã thua về quân sự, nay chúng ta lại thua về tình người. Phải chăng vì vậy mà ông Kỳ đã có những hành động nhằm mục đích vớt vát mặt mũi của phe quốc gia, khi ông nhắc khéo là bây giờ không còn vấn đề Quốc-Cộng.

Vì một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng, trong số này không thiếu gì những kẻ vô liêm sỉ, trốn tránh nghĩa vụ và nhiệm vụ trong thời chiến, hay tìm cách tránh động viên, tránh quân dịch v..v.., bây giờ cũng nổi tiếng là "vô thượng thiên tài chống Cộng", và thiểu số này lại là những người nắm phương tiện truyền thông nhiều nhất, là những người lớn tiếng nhất, cho nên, chắc ông Kỳ không lấy gì làm ngạc nhiên khi người ta nấp sau danh nghĩa những hội đoàn, tổ chức hữu danh vô thực để mà gay gắt lên án những việc làm của ông. Thực chất những hành động chống đối lố bịch này, phần lớn là của những kẻ đầu cơ chính trị, chỉ là khai thác lòng thù hận chưa thể dứt bỏ của một thiểu số người Việt sống ở nước ngoài cho những mục đích cá nhân hoặc phe nhóm khác. Để chứng minh, tôi xin ông Kỳ hãy cùng tôi đọc đoạn văn sau đây, có kèm theo vài lời phê bình của tôi:

Bản văn số: 012/HÐÐD/VP

Tuyên Cáo của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại về những lời phát biểu của cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ ở Việt Nam.

Chúng tôi, toàn thể cựu quân nhân QLVNCH, Cảnh Sát Quốc Gia, Lực Lượng Bán Quân Sự và thế hệ Hậu Duệ trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đã vô cùng công phẫn khi được tin ông Nguyễn Cao Kỳ, một sĩ quan cấp Tướng đã từng làm Tư Lệnh Không Quân, và cũng là người đứng trong hàng ngũ Lãnh Đạo Quốc Gia trong nền Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam, đã xin được cấp chiếu khán để về Sài Gòn xưng tụng chế độ độc tài của bạo quyền cộng sản Việt Nam.

[Những lời thuộc loại đao to búa lớn này chứng tỏ tác giả viết bậy, nếu không muốn nói là ngu. Thứ nhất, không một cá nhân nào, không một tổ chức hay hội đoàn nào có thể nhân danh "toàn thể cựu quân nhân QLVNCH, Cảnh Sát Quốc Gia, Lực Lượng Bán Quân Sự và thế hệ Hậu Duệ trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại". Dĩ nhiên là tôi cũng như không thiếu gì cựu quân nhân QLVNCH không hề nằm trong cái "toàn thể" này. Vả chăng, không ai có quyền và tôi cũng không cho phép bất cứ ai làm đại diện cho tôi để vơ tôi vào cái tập thể chỉ có tên trên mặt giấy của họ. Sự tiếm danh trơ trẽn này đã khiến cho toàn thể bản văn trở nên vô giá trị. Những người ra tuyên cáo này có hiểu được như vậy không? Thứ nhì, con cái tôi và bạn bè cùng trang lứa của chúng không dính dáng gì đến chuyện Quốc-Cộng, chúng không thuộc thế hệ Hậu Duệ trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại của các ông, và các ông đừng có hòng làm ô nhiễm đầu óc chúng với sự thù hận của các ông. Thứ ba, tại sao lại phải công phẫn khi được tin ông Nguyễn Cao Kỳ xin được cấp chiếu khán để về Sài Gòn, trong khi hàng trăm ngàn người khác cũng đã xin được cấp chiếu khán về Saigon? Ông Kỳ về nước với tư cách cá nhân, một Việt kiều như tất cả mọi Việt kiều khác, không đại diện cho ai, và chắc chắn không phải với tư cách của một "cựu" nào khác. Và thứ tư, ông Kỳ có quyền đưa ra những ý kiến của ông ta về chính quyền hiện nay ở Việt Nam không? Ai nói không, xin lên tiếng! Chúng ta có thể không đồng ý với ông Kỳ nhưng chúng ta không thể và không có quyền tước bỏ quyền tự do phát biểu ý kiến của ông Kỳ qua những thủ đoạn mạ lỵ, lên án cá nhân ông. Đoạn văn sau đây hiển thị những thủ đoạn có thể gọi là hạ cấp này]

Vì gặp thời thế mà ông Nguyễn Cao Kỳ đã lên tới địa vị chỉ huy trong quân đội và lãnh đạo quốc gia. Nhưng ông vốn dĩ là người không có căn bản học vấn và ngoài tài lái máy bay, lại không có kiến thức chuyên môn về tổ chức và lãnh đạo Không Quân, thêm vào tính tình phản phúc, ngạo ngược, nên đã không đứng vững lâu dài ở những cương vị chỉ huy và lãnh đạo.

[Đoạn văn này không dính dáng gì tới (irrelevant) chuyện ông Kỳ về nước và đưa ra vài ý kiến. Đây có phải là bày tỏ sự bất đồng ý kiến trong tinh thần đối thoại nghiêm chỉnh, trí thức, hay chỉ là thủ đoạn mạ lỵ, hạ thấp cá nhân [character assassination] một cách bỉ ổi, hạ cấp, rất quen thuộc trên những diễn đàn truyền thông hải ngoại, chống Cộng có môn bài và chống Cộng cho Chúa. Thủ đoạn "ám sát tư cách cá nhân" này thực ra đã hạ thấp tư cách của chính Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại rất nhiều nếu có cái gọi là Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại.]

Từ ngày sang Hoa Kỳ, vì là người không có tài năng thực sự, nên ông Nguyễn Cao Kỳ làm gì cũng thất bại. Hiện nay ông là người bị khánh kiệt tài sản nên kiếm cơ hội về làm ăn với cộng sản Việt Nam.

[Ở cái tuổi đã quá tuổi "cổ lai hi" tôi không hiểu ông Kỳ sẽ làm ăn gì với Cộng sản. Nhưng vấn đề đặt ra là ông Kỳ có quyền về làm ăn với "Cộng sản VN" (sic) không? Đã có biết bao "Việt kiều" về làm ăn với Cộng sản VN, khoan kể đến các nước Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn v.. v.. và các nước ở Âu Châu và Mỹ. Vậy về làm ăn với Cộng Sản phải chăng là một cái tội, tội đối với ai, và ai có quyền cho đó là tội. Câu viết trên cũng lại không phải để đối thoại, mà chỉ để hạ thấp cá nhân ông Kỳ một cách không chính đáng]

Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại long trọng tuyên bố rằng những lời phát biểu vô trách nhiệm của ông Nguyễn Cao Kỳ, khi xưng tụng chế độ cộng sản độc tài, là một hành động của kẻ hèn nhát, vô liêm sỉ, đi ngược lại nguyện vọng của toàn dân Việt Nam.

[Đây là điều vu khống trắng trợn, vì ông Kỳ không hề xưng tụng chế độ cộng sản độc tài, ông ta chỉ đưa ra một số ý kiến cá nhân, như tôi sẽ trình bày trong một phần sau, và đây không phải là một hành động hèn nhát, vô liêm sỉ, mà trái lại rất can đảm vì đã nói thẳng ra những ý nghĩ của mình mà không sợ sệt, dù đang sống trong vùng "gió tanh mưa máu". Vô liêm sỉ là làm những việc hèn hạ như chụp mũ, muốn tước bỏ tự do, quyền ăn nói của người khác. Mà cái gì là vô trách nhiệm? Trách nhiệm gì, và trách nhiệm đối với ai? Ở ngoại quốc mà nói đến chuyện "nguyện vọng của toàn dân" mới chính là chuyện láo lếu, vô liêm sỉ. Cái Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cọng Hoà Bolsa nầy đã đi hết 64 tỉnh thành để hỏi nguyện vọng của 84 triệu dân Việt Nam chưa mà biết đó là "nguyện vọng của toàn dân" ? ]

Như trên đã nói, sự tiếm danh bừa bãi ở trên đã làm cho bản văn "tố khổ" ông Kỳ không có bất cứ một giá trị nào. Do đó tôi không muốn phí thêm thì giờ để phê bình tiếp. Nhưng có một chuyện rất cần phải nói tới. Đó là, bản văn được ký như sau:

Làm tại Hoa Kỳ ngày 16 tháng Giêng năm 2004
Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại
Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện

Nhưng ông Kỳ có biết ai là Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại không? Đó là GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một người mà tôi tin rằng ông biết rõ hơn ai hết. Nhưng có thể ông đã quên hay không còn muốn nhớ đến con người này. Theo chỗ tôi được biết thì ông Vinh ra trường Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy trong khi hầu hết ra Thiếu Úy. Nhưng vì là người "cao giống", gia nhập Cần Lao nên quan lộ thênh thang, lên đến Trung Tá. Về sau, được cho đi học ngoại quốc rồi ở lại luôn nước ngoài, trong khi các đồng đội của ông ta, trong đó có ông Kỳ, kiên trì thực sự chống Cộng từ ngày đầu đến ngày cuối ở trong nước.. Tôi không biết mọi người nghĩ sao, chứ riêng tôi, tôi cho đó là "đào ngũ". Ông Kỳ có cảm thấy buồn cười và nghĩ sao khi thấy một người như vậy, nhưng bây giờ, ở nơi không có Cộng, nhảy lên bàn độc diễn vở tuồng đóng vai Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại [sic] để chống Cộng, vậy thì cái gọi là Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại thực chất là như thế nào mà phong một người chỉ có bằng cấp nhưng không có tinh thần trách nhiệm, trốn tránh nhiệm vụ của một quân nhân trong thời chiến, làm Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện cho những người đã từng thực sự chiến đấu chống Cộng? Riêng tôi, tôi cảm thấy nhục nếu tôi ở trong cái Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại này với một ông Chủ tịch như vậy. Cũng may mà tôi không hề dính dáng gì đến cái gọi là Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại này và lẽ dĩ nhiên, nhân danh là một cựu quân nhân QLVNCH, tôi không thể chấp nhận tổ chức của một nhóm người nhưng lại nhân danh cả một tập thể.

Bây giờ, chúng ta hãy thử xem ông Kỳ đã tuyên bố, đúng ra chỉ là những ý kiến cá nhân, vì ông ta không có đối tượng tuyên bố, những gì. Chúng ta hãy đọc vài ý kiến điển hình của ông Kỳ trong bài "Cựu lãnh tụ Nam Việt Nam, Khi Về Nước, Ủng Hộ Đảng Cộng Sản" (Former South Vietnamese leader endorses Communist Party on his return) của Ben Rowse, ngày 15/1/2004:

Cựu Tướng Không Quân nói rằng một chính quyền độc đảng mang đến "sự ổn định và kỷ luật" thì cần thiết cho Việt Nam để ra khỏi sự nghèo khổ.. Vấn đề ưu tiên là xây dựng nền kinh tế, từ đó có một lớp trung lưu trong nước rồi sau đó tính đến chuyện cải cách chính trị.. Tôi cho rằng thật là sai lầm khi một số người, đặc biệt là một số người Việt ở Mỹ, ngày nay đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận và thực hiện một nền dân chủ giống như nền dân chủ họ đang hưởng ở Mỹ. Quan niệm của tôi là, đó là một sự sai lầm. Nền dân chủ đó không thích hợp với Việt Nam trong tình thế hiện nay."Những người muốn trở về quá khứ, nói lên những điều không tưởng, chỉ là một thiểu số rất nhỏ, và hầu hết không lâu cũng sẽ qua đời"

[The former air force general said a strong one-party government that provided "stability and discipline" was essential for Vietnam to escape the clutches of poverty.. "The priority is to build the economy, to have a middle class in the country and then later on think about political reform," "I think it is very wrong that some, especially some Vietnamese overseas in America, today are asking, demanding that Vietnam has to adopt some sort of democracy like they have in America. "My personal opinion is that it is wrong. It does not fit Vietnam in the present situation," "The people who want to return to the past and talk about the so-called utopia are a very small minority, and mostly they will die soon," said Ky.]

Theo ông Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại thì ông Nguyễn Cao Kỳ không có căn bản văn hóa. Nhưng cái căn bản văn hóa (sic) của ông Chủ Tịch đã giúp gì được cho quốc gia dân tộc ngoài chuyện hám danh ra làm chủ tịch của một tập thể hữu danh vô thực mà không biết ngượng? Qua những nhận định của ông Kỳ về chính trị, thời thế, thì tôi thấy hiểu biết của ông ấy vượt xa sự hiểu biết về chính trị và thời thế của ông Chủ Tịch, vì ông Chủ Tịch, bất kể bằng cấp cao đến đâu, lại không có tầm nhìn xa hơn cái mũi chống Cộng cuối mùa, khi không còn Cộng và ở nơi không có Cộng, của mình.

Thật vậy, tôi hiểu rằng "cải cách chính trị" mà ông Kỳ nói đến là tiến trình dân chủ. Tiến trình dân chủ hóa và tự do hóa (tôi nhấn mạnh chử "tiến trình") trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng nguyên si và ngay tức khắc từ ngoài vào được. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Người dân phải ý thức được thế nào là tự do và dân chủ trong tinh thần trách nhiệm và chỉ có được ý thức này qua một nền giáo dục hợp lý để nâng cao dân trí. Trong cuốn "Bàn Về Tự Do" (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: "Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát" [Universal teaching must precede universal enfranchisement], và "Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh" Vậy những tổ chức, hội đoàn, cá nhân v..v.. đang "tố khổ" ông Kỳ đã hiểu thế nào là tự do, dân chủ chưa, và đã có thể họp thành một cộng đồng văn minh chưa? Đặc biệt là những người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma còn lệ thuộc Vatican thì không nên nói đến chuyện tự do và dân chủ, vì họ đang nằm trong một cấu trúc tôn giáo toàn trị của Vatican, dù là toàn trị về vấn đề tâm linh, được nền thần học Ca-Tô Giáo ngụy biện để tạo quyền lực cho giới giáo sĩ, nhốt tín đồ vào cảnh tù ngục tâm linh. Người Việt Nam theo Ca-Tô giáo không thể đến thẳng với Chúa hay sao mà cứ phải tuân phục một ông giáo hoàng ngoại quốc ngồi ở nước ngoài mà họ bị nhồi sọ để tin đó là vị "đại diện của Chúa trên trần", có quyền phép cho họ đến với Chúa sau khi chết. Đó là chưa nói đến chuyện lịch sử đã ghi rõ là không thiếu gì giáo hoàng vô đạo đức, là những kẻ sát nhân, hoang dâm, loạn luân v..v.. [Xin đọc bài "Đây! Những Đức Thánh Cha" trên giaodiemonline.com]. Ngay giáo hoàng tiền nhiệm John Paul II và giáo hoàng đương nhiệm Benedict XVI cũng không thể coi như là những người có đạo đức tôn giáo. Có cần tôi phải chứng minh không?

Còn tiếp.....